Diễn đàn sinh viên Ngoinhachung.Net

 Quên mật khẩu
 Đăng ký

Tài liệu để copy & paste làm tiểu luận TTHCM

[Lấy địa chỉ]
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:40:51
tìm Hiểu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật[/COLOR][/SIZE]
chủ Tịch Hồ Chí Minh Là Người Khai Sinh Ra Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà - Nay Là Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Người đã Kế Thừa, Xây Dựng Nhà Nước Ta Ngày Càng Hoàn Thiện Qua Từng Giai đoạn Lịch Sử. Vì Vậy, Nghiên Cứu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật Có ý Nghĩa Quan Trọng Nhằm định Hướng Cho Cải Cách, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa ở Nước Ta Hiện Nay.

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật Bắt Nguồn Từ Sự Lĩnh Hội Những Giá Trị Nền Văn Minh Nhân Loại, đó Là Những Tư Tưởng Văn Hoá Phương đông Và Văn Hoá Phương Tây; Truyền Thống Yêu Nước, đoàn Kết Dân Tộc; đồng Thời Tư Tưởng Hồ Chí Minh Là Sự Kế Thừa Và Phát Triển Một Bước Tư Tưởng Mác - Lênin Vào Hoàn Cảnh Cụ Thể Của Nước Ta. Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật được Hình Thành Trong Quá Trình Lâu Dài Thông Qua Sự Tìm Tòi, Tư Duy Của Hồ Chí Minh.

Qua Tìm Hiểu Các Tư Tưởng Của Các Vị Tiền Bối Và Trải Nghiệm Thực Tế ở Nhiều Nước Trên Thế Giới, Hồ Chí Minh Nhận Ra Một Chân Lý Rằng đối Với Dân Tộc Việt Nam Trước Hết Cần Lật đổ Nhà Nước Thực Dân - Phong Kiến, Xây Dựng Nhà Nước Dân Tộc độc Lập, Dân Chủ Cộng Hòa. Tư Tưởng Về Nhà Nước Kiểu Mới Của Hồ Chí Minh được Hình Thành Và Phát Triển Thể Hiện Qua Một Loạt Các Tác Phẩm Của Người Như “yêu Sách Của Nhân Dân An Nam”(1919), Lời Phát Biểu Tại đại Hội Tua (1920), “ đông Dương Và Triều Tiên” (1921), “ Bản án Chế độ Thực Dân Pháp” (1925). Trong Các Tác Phẩm đó, Hồ Chí Minh đã Tố Cáo Và Lên án Những Tội ác Tày Trời Của Chế độ Thực Dân Nói Chung Và Chế độ Thực Dân Pháp Nói Riêng Trên Mọi Lĩnh Vực Kinh Tế, Văn Hoá, Xã Hội; Bóc Trần Bản Chất Của Nhà Nước Thực Dân Cai Trị Thuộc địa, Cách Thức Tổ Chức Của Nhà Nước Thực Dân Phong Kiến Nhằm Bóc Lột Nhân Dân Ta. đồng Thời, Thông Qua Các Tác Phẩm đó Hồ Chí Minh Cũng Nêu Suy Nghĩ Về Nhà Nước Cách Mạng, Về Chế độ Mới Sẽ Thành Lập để Thay Thế Chế độ Cũ. Như Vậy Tư Tưởng đầu Tiên Của Hồ Chí Minh Về Nhà Nước đó Là Nhà Nước đó Phải Là Nhà Nước độc Lập. điều Này Một Lần Nữa được Bác Khẳng định Tại “tuyên Ngôn độc Lập” Người đọc Tại Quảng Trường Ba đình: “tất Cả Các Dân Tộc Trên Thế Giới Sinh Ra đều Bình đẳng, Dân Tộc Nào Cũng Có Quyền Sống, Quyền Sung Sướng Và Quyền Tự Do.”

Sau Khi Giành được độc Lập Cần Xây Dựng Nhà Nước đủ Mạnh để Bảo Vệ Thành Quả Cách Mạng Và Kiến Thiết Xã Hội Mới. Nhà Nước Kiểu Mới Phải Khác Về Bản Chất So Với Kiểu Nhà Nước Cũ – Nhà Nước Phong Kiến, Tư Sản. Nhà Nước Kiểu Mới Phải Là Nhà Nước Của Dân, Do Dân, Vì Dân, Nhà Nước Của đa Số Người Dân Lao động. Nhà Nước Của Dân, Do Dân, Vì Dân Cũng Mang Nét đặc Trưng Của Nước Ta (nhà Nước Dựa Trên Nền Tảng Liên Minh Công - Nông - Trí Thức Do Giai Cấp Công Nhân Lãnh đạo) Xuất Phát Từ đặc Thù Xã Hội Nước Ta. Nước Ta Là Một Nước Nông Nghiệp Lạc Hậu. Sự Xâm Lược Của Chế độ Thực Dân Làm Xuất Hiện Cả Hai Giai Cấp: Giai Cấp Công Nhân Và Giai Cấp Tư Sản Dân Tộc Nhưng Giai Cấp Công Nhân Xuất Hiện Trước Giai Cấp Tư Sản Dân Tộc. Trong Giai đoạn đầu, Công Nhân Chưa Phát Triển Nhiều Về Số Lượng Và Chất Lượng Nhưng Do được Thừa Hưởng Truyền Thống Yêu Nước, Anh Hùng Của Dân Tộc Lại được Giác Ngộ Chủ Nghĩa Mác - Lênin. Trong Khi đó Giai Cấp Tư Sản Trên Thế Giới đã Hết Vai Trò Cách Mạng, Giai Cấp Tư Sản Dân Tộc ở Việt Nam Không đủ Sức Trở Thành Giai Cấp Lãnh đạo Cách Mạng Vệt Nam. Do đó Giai Cấp Công Nhân đã Vững Bước Lên Vũ đài Chính Trị Trở Thành Giai Cấp Lãnh đạo Cách Mạng Việt Nam. Tư Tưởng Này đã được Bác Khẳng định Ngay Từ Ngày đầu Thiết Lập Chế độ Nhà Nước. “ Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Nhà Nước Dân Chủ Nhân Dân Phải đặt Dưới Sự Lãnh đạo Của Giai Cấp Công Nhân Thông Qua Chính đảng Của Mình”1. đó Là Nguyên Tắc Bất Di Bất Dịch Và Là điều Kiện Tiên Quyết Cho Sự đứng Vững Và Phát Triển Của Nhà Nước Việt Nam.

Nhà Nước Của Dân Là Nhà Nước Mà Quyền Lực Từ Nhân Dân, Thuôc Về Nhân Dân, Do Nhân Dân Quyết định. Với Quan Niệm “ Chở Thuyền Cũng Là Dân, Lật Thuyền Cũng Là Dân” Hồ Chí Minh đã Khẳng định Tại Hiến Pháp 1946 “ Tất Cả Quyền Bính Trong Nước Là Cả Toàn Thể Nhân Dân Việt Nam”. điều Này Xuất Phát Từ Trong Cuộc đấu Tranh Giành độc Lập ở Nước Ta. Toàn Thể Nhân Dân Ta đã đấu Tranh Không Ngại Gian Khổ Hi Sinh để Giành độc Lập. độc Lập Là Thành Quả đấu Tranh Của Nhân Dân Do đó Nhân Dân Phải Làm Chủ Chính Quyền. Nhà Nước Chỉ Là đại Diện Cho Nhân Dân, được Nhân Dân Giao Quyền để Quản Lý Xã Hội. Vì Vậy, Nhà Nước Là Công Bộc Của Dân, Là đầy Tớ Của Dân Chứ Không Phải Là Cha Mẹ Dân. Nhà Nước được Nhân Dân Thành Lập để Phục Vụ Dân Chứ Không Phải Là để Cai Trị Dân.

Nhà Nước Của Dân, Do Dân Thể Hiện Trước Hết Là Nhân Dân Bầu Ra Nhà Nước, Bầu Ra Chính Quyền Các Cấp. Theo Hiến Pháp 1946 Nhân Dân được Bầu Ra Các đại Biểu Quốc Hội, đại Diện Cho ý Chí Và Nguyện Vọng Của Mình Và Trong Quá Trình Làm Việc Nhân Dân Có Quyền Kiểm Soát, Bãi Miễn đối Với Các đại Biểu Quốc Hội. Nhân Dân Không Chỉ Bầu Ra, Kiểm Soát Các đại Biểu Quốc Hội Mà Nhân Dân Còn Có Thẩm Quyền Giám Sát Toàn Bộ Hoạt động Của Các Cơ Quan Nhà Nước Trong Thực Thi Công Vụ. Người đã Từng Nhắc Nhở “chính Phủ Ta Là Chính Phủ Của Nhân Dân. Chính Phủ Mong đồng Bào Giúp đỡ, đôn đốc, Kiểm Soát Và Phê Bình để Làm Tròn Nhiệm Vụ đầy Tớ Trung Thành Tận Tuỵ Của Nhân Dân Ta. Muốn Nhân Dân Kiểm Tra, Kiểm Soát Nhà Nước Phải Có Tổ Chức Thuận Tiện Tránh Cửa Quyền, Hách Dịch Thực Hiện Khiếu Tố Của Nhân Dân.” Nhà Nước Của Dân được Thể Hiện ở Phương Diện Thứ Hai, đó Là Nhân Dân Tham Gia Trực Tiếp Vào Công Việc Của Nhà Nước Thông Qua Chế độ Trưng Cầu Dân ý, Tất Cả Những Vấn đề Quan Trọng Liên Quan đến Vận Mệnh Của đất Nước đều Phải được đem Ra Thảo Luận Lấy ý Kiến Toàn Dân. điều Này được Khẳng định Từ Rất Sớm Và Nó Còn được Kế Thừa đến Ngày Nay. đây Là Một điều Kiện để đảm Bảo Tính Dân Chủ Và Hiệu Qủa Trong Hoạt động Của Nhà Nước.

Nhà Nước Của Dân, Nhà Nước Do Dân Thì điều Tất Yếu Dẫn Tới Hệ Quả Nhà Nước Vì Dân. Nhà Nước Vì Dân Là Nhà Nước Tất Cả Phục Vụ Nhân Dân, Có Trách Nhiệm đối Với Nhân Dân, Kính Trọng Nhân Dân. Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Một Nhà Nước Vì Dân Là Cơ Quan Nhà Nước Và Cán Bộ Công Chức Phải Lấy Phục Vụ Nhân Dân Làm Mục đích Chính, Không Có đặc Quyền đặc Lợi. đây Là Tư Tưởng Mới Mẻ, Nhất Quán, Nổi Bật Trong Cuộc đời Của Người. Nó được Hun đúc Từ Tinh Thần Tương Thân Tương ái, Thương Yêu Con Người Của Hồ Chí Minh Và được Thể Hiện Từ Những Năm Tháng đi Tìm đường Cứu Nước đến Khi đã Làm Chủ Tịch Nước. Hồ Chí Minh đã Trả Lời Các Nhà Báo : “ Tôi Tuyệt Nhiên Không Muốn Công Danh Phú Quý Chút Nào. Bây Giờ Phải Gánh Vác Chức Chủ Tịch Là Vì đồng Bào Uỷ Thác Thì Tôi Phải Gắng Làm, Cũng Như Người Lính Vâng Lệnh Quốc Dân Ra Mặt Trận” 1. Nhìn Lại Chặng đường Hoạt động Và Cống Hiến Của Hồ Chí Minh Ta Dễ Dàng Nhận Thấy Quan điểm Xuyên Suốt Trong Tư Tưởng Của Người Là Vì Dân, Vì Con Người. Không Một ý Nghĩ Nào Của Bác Rời Xa Lợi ích Của Những Người Lao động, đến Cuộc Sống Hàng Ngày Của Người Dân. điều Này Thật đáng Trân Trọng Và đúng Như Lời Bác Nói: “cả Cuộc đời Tôi Không Có Một Mong Muốn Gì Hơn Mong Muốn đồng Bào Ta Có Cơm ăn áo Mặc, được Học Hành”.

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Luôn Tồn Tại Song Song Với Tư Tưởng Về Pháp Luật. Từ Rất Sớm, Hồ Chí Minh đã Nhận Thức được Vai Trò Của Pháp Luật Trong điều Hành Và Quản Lý Xã Hội Của Nhà Nước. Thực Chất Của Pháp Luật Là ý Chí Của Giai Cấp Cầm Quyền. Ngay Từ Năm 1919, Trong Bản Yêu Sách Của Nhân Dân An Nam, Người đã đưa Ra Yêu Cầu Thay Chế độ Ra Sắc Lệnh Bằng Chế độ Các đạo Luật. Như Vậy, Người đã Nhận Thấy Tầm Quan Trọng Tối Thượng Của Một Nhà Nước Quản Lý Xã Hội Bằng Pháp Luật Nhưng Phải Là Pháp Luật Dân Chủ. Hồ Chí Minh Xem Pháp Luật Như Một Phương Tiện để Xây Dựng Và Củng Cố Nhà Nước. Pháp Luật đúng đắn Sẽ Tạo Nên Sự ổn định Của Nhà Nước, Làm Cho Bộ Máy Nhà Nước Vận Hành đúng Quỹ đạo, Người Dân Dễ Thực Hiện Quyền Dân Chủ Của Mình. Không Quản Lý Nhà Nước, Xã Hội Bằng Pháp Luật Sẽ Dẫn Tới Sơ Hở, Cán Bộ Dễ Sinh Lạm Dụng Quyền Lực Gây Nên Tình Trạng Mất ổn đinh đất Nước.

Pháp Luật được Coi Là Rất Quan Trọng Trong Quản Lý Nhưng Quản Lý Xã Hội Không Chỉ Bằng Pháp Luật. Nếu Chỉ Có Pháp Luật Mọi Hoạt động Sẽ Trở Nên Cứng Nhắc. Càng Nghiên Cứu Sâu Tư Tưởng Hồ Chí Minh Ta Càng Phát Hiện Ra Những điều Mới Mẻ Và điều đặc Sắc Trong Tư Tưởng Trị Nước Của Hồ Chí Minh Là Người đã Kết Hợp Nhuần Nhuyễn Giữa “pháp Trị” Và “đức Trị”. “luật Pháp Phải Dựa Vào đạo đức” Nhưng “luật Pháp Phải Bảo Vệ đạo đức”. đồng Thời “đức Trị” Nhằm Khuyên Người Ta Làm Những Việc Nên Làm, “pháp Trị” Bắt Buộc Người Ta Phải Tránh Những Việc Nên Tránh. “đức Trị” Là Trị Nước Bằng Tình, Bằng Thuyết Phục, Bằng đạo; “pháp Trị” Là Trị Nước Bằng Các đạo Luật. “đức Trị” Và “pháp Trị” Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh Không Loại Trừ Nhau Mà Thống Nhất, Bổ Sung Cho Nhau. Người Sử Dụng “đức” để Cảm Hoá Ngăn Chặn Những Thói Hư Tật Xấu, Hạn Chế Thấp Nhất “cái ác” Nảy Sinh ở Mỗi Con Người. Song, Nếu Ai đó Phạm Tội Thì Người Nghiêm Trị Theo Pháp Luật. Người Từng Nói: “không Dùng Xử Phạt Là Không đúng”, Song “chưa Gì Cũng Dùng đến Xử Phạt Cũng Không Nên”, “thưởng Phạt Phải Nghiêm Minh Thì Nhân Dân Mới Yên ổn, Kháng Chiến Mới Thắng Lợi, Kiến Quốc Mới Thành Công”2. Theo Bác Trước Khi Sử Dụng Tới Pháp Luật Mang Tính Cưỡng Chế Cần Tác động Lên Tư Tưởng Tình Cảm Của Con Người, Trước Khi Bắt Người Dân Làm Theo Pháp Luật Cần Cho Họ Hiểu được ý Nghĩa Mục Tiêu Của Pháp Luật, Trước Khi Sử Dụng Các Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính Cần Sử Dụng Giáo Dục Thuyết Phục. đây Là Một Tư Tưởng Thể Hiện Rõ Tính Nhân Văn Nhân Bản, Tôn Trọng Quyền Con Người Sâu Sắc Của Hồ Chí Minh.tư Tưởng “đức Trị” Kết Hợp “pháp Trị” Thể Hiện Rõ Nhất Trong “quốc Lệnh” Do Người Ban Hành Ngày 26/1/1946. Trong “quốc Lệnh” Này, Người đưa Ra 10 điều Khen Thưởng ( Thể Hiện Cho đức Trị) Và 10 điều Hình Phạt ( Thể Hiện Cho Pháp Trị). Nhà Nước Và Pháp Luật Là Hai Tư Tưởng Cơ Bản Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh. Hai Tư Tưởng Này Gắn Kết Với Nhau Và Nhằm Mục đích đem Lại ấm No Hạnh Phúc Cho Nhân Dân.

Tư Tưởng Hồ Chí Minh Cùng Với Các Học Thuyết Của Mác - Lênin Là Kim Chỉ Nam Xuyên Suốt Toàn Bộ Quá Trình Xây Dựng Và Phát Triển Xã Hội Chủ Nghĩa ở Nước Ta. Dưới Tác động Tiêu Cực Của Nền Kinh Tế Thị Trường đã Làm Cho Lý Tưởng Của Một Bộ Phận Cán Bộ, đảng Viên Không Tin Vào Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa, Một Số Khác Bị Tha Hoá Biến Chất Làm Mất Lòng Tin Trong Nhân Dân Do đó Việc Nghiên Cứu Và Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Vào Xây Dựng đất Nước Ngày Càng Trở Nên Cấp Thiết Hơn Bao Giờ Hết. Tư Tưởng Của Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật Là Cơ Sở để đảng, Nhà Nước Và Nhân Dân Ta Xây Dựng Một đất Nước Chăm Lo, Phục Vụ Lợi ích Hợp Pháp Chính đáng Của Nhân Dân Và Xây Dựng Nên Một Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa.

Tài Liệu Tham Khảo

1. Hồ Chí Minh Toàn Tập ( Tập 4, Tập 5)

2. 5 2.tư Tưởng Hồ Chí Minh - Học Viện Chính Trị Quốc Gia.

3. 55 Năm Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Nguyễn Thị Hiếu Hạnh
Giảng Viên Khoa Quản Lý Nhà Nước
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:41:33
Một vài suy nghĩ về vấn đề đấu tranh chống biểu hiện suy thoái phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay[/COLOR][/SIZE]
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”1. Trong tư tưởng của Người, là người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, trong đó, đức là gốc, là bản chất của người cách mạng. Vì vậy, tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng là yêu cầu quan trọng hàng đầu, thường xuyên đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Thế nhưng, thực tiễn những vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước bị phát hiện thời gian qua đã dóng lên hồi chuông cảnh bảo về hiện tượng suy thoái phẩm chất đạo đức, lệch lạc về nhận thức của một bộ phận cán bộ, Đảng viên. Có thể khái quát một số biểu hiện chính sau:

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”1. Trong tư tưởng của Người, là người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, trong đó, đức là gốc, là bản chất của người cách mạng. Vì vậy, tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng là yêu cầu quan trọng hàng đầu, thường xuyên đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Thế nhưng, thực tiễn những vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước bị phát hiện thời gian qua đã dóng lên hồi chuông cảnh bảo về hiện tượng suy thoái phẩm chất đạo đức, lệch lạc về nhận thức của một bộ phận cán bộ, Đảng viên. Có thể khái quát một số biểu hiện chính sau:

Trước hết, là sự lệch lạc trong nhận thức về chuẩn giá trị cuộc sống và nhu cầu hưởng thụ. Bắt đầu từ lập luận cho rằng, cán bộ cũng là con người. Mà đã là con người thì có yêu, có ghét, có sở thích, khát khao, thèm muốn rất người và có những khát vọng cũng rất người. Thời trẻ đã cống hiến, đã phấn đấu, học tập, đã dành hết tuổi thanh xuân cho sự nghiệp thì giờ đây hoàn toàn có thể có quyền nghỉ ngơi, thư giãn, “xả hơi”. Một số cán bộ tự cho mình cái quyền được hưởng thụ, được ăn chơi, buông thả mình như không hề chịu sự ràng buộc của kỷ luật Đảng, kỷ luật Nhà nước. Đây là một trong các nguyên nhân nảy sinh hiện tượng đánh bạc, mua dâm, bồ bịch, tham ô, tham nhũng, làm mất tư cách, tha hoá nhân phẩm, đạo đức cán bộ. Đúng ra, ở bất kể thời điểm, hoàn cảnh nào người cán bộ cũng phải nghĩ đến lợi ích chung, lợi ích của nhân dân, xã hội, cộng đồng, phải đặt đến lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, phải nghĩ đến trách nhiệm “tận tuỵ phục vụ nhân dân” mà Hiến pháp 1992, tại Điều 8 đã quy định. Đặc biệt là còn phải nghĩ đến việc làm gương cho thế hệ sau. Trượt ngã trước sự cám dỗ của những thú vui tầm thường không những tự cán bộ mất đi danh dự và công sức phấn đấu suốt đời của bản thân mình, làm mất đi danh dự của gia đình, quê hương, làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên và lớn hơn là niềm tin của nhân dân đối với Đảng

Thứ hai, sự lệch lạc về động cơ phấn đấu trong công tác. Bác đã nhiều lần chỉ rõ và nhấn mạnh: “Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài”2 , “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”3. Thế nhưng, không phải cán bộ nào cũng nhận thức và hành động đúng lời Bác nhắc nhở. Bệnh tham lam, tự tư, tự lợi, đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc…dùng của công vào việc tư cùng nhận thức sai lệch, động cơ cá nhân không đúng đắn, mong lên chức, nắm quyền, muốn được cất nhắc, đề bạt chỉ vì quyền lợi, cá nhân đã làm nảy sinh căn bệnh “chạy” chức, quyền mặc dù chưa đủ cả về tài và đức. Đây là những kẻ chỉ nhìn thấy mình mà không nhìn thấy ai khác và mắc bệnh thích làm lãnh đạo trong khi năng lực thực tế yếu kém, hoặc tự cho mình giỏi hơn tất cả nên xem thường người khác, thường có biểu hiện “kéo bè kéo cánh”, thiếu tôn trọng cấp trên, coi thường cấp dưới: “…đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới thì cậy quyền lấn áp”4 .

Thứ ba, biểu hiện coi thường việc tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Trong những cán bộ thoái hoá, biến chất không ít là do được người thân, họ mạc nâng đỡ, kéo lên làm cán bộ dù tài hèn đức mọn, lại không chịu phấn đấu tu dưỡng mà chỉ nặng về mánh khoé, thủ đoạn, luôn chỉ săn tìm hào quang của quyền lực, “dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng mình”5. Đây là biểu hiện rất nguy hiểm, và càng nguy hiểm hơn khi nó được bàn tay quyền lực nào đó nâng đỡ, bao che, dung túng, hậu thuẫn. Người Việt Nam ta vốn trọng tình, nhưng “dĩ hoà vi quý” thái quá sẽ trở thành nhu nhược. Sự nhu nhược của cán bộ sẽ cũng góp phần làm trầm trọng thêm những yếu kém của hệ thống. Không có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình - “Đó chính là thái độ của những đảng viên và cán bộ ươn hèn, yếu ớt”6 . Thấy sai không dám nói, thấy trái không dám cản, không dám có chính kiến. Có thể thấy rằng, những nhận thức, định hướng chính trị ban đầu của cán bộ sẽ có ảnh hưởng rất sâu đậm trong suốt cuộc đời chức nghiệp. Nếu nhận thức đúng, định hướng đúng, động cơ đúng sẽ có sản phẩm là những cán bộ tốt. Còn nếu ngay từ đầu nhận thức đã sai trái, lệch lạc, méo mó thì hệ quả tất yếu là sản sinh ra những “sâu mọt” trong đội ngũ cán bộ.

Thứ tư, một số cán bộ đã bị choáng ngợp trước sự thay đổi điều kiện sống và công tác, dao động trước cuộc sống sung túc về vật chất, từ mục đích “vì dân” đã tha hoá, biến chất trở thành chỉ biết vì bản thân mình. Lao động quản lý, lãnh đạo là lao động trí tuệ, lao động trí óc chứ không phải là lao động chân tay. Thời kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh thời cơ là thách thức đối với cả đất nước chúng ta. Những ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường ảnh hưởng đến phẩm chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Cuộc sống quá coi trọng vật chất đã làm không ít cán bộ, đảng viên bị sa ngã. Người cán bộ có tâm là người chấp nhận “cuộc chơi” đầy thử thách nhưng đồng thời phải giữ được “lề”. Người cán bộ chân chính hoàn toàn không coi việc đạt được cuộc sống hưởng thụ sung túc là mục đích phấn đấu tự thân của cuộc đời, là sự thành đạt cá nhân, mà luôn ý thức rất cao về trách nhiệm với nhân dân, đến sự uỷ thác của nhân dân để có một ngày mai tươi sáng hơn cho tất cả mọi người.

Thứ năm, là biểu hiện “vô cảm” trước nỗi đau và cuộc sống vốn còn nhiều khổ cực, thiếu thốn của không ít người dân. Bác đã từng nói “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi;…nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”7. Tuy nhiên, trong thực tế có một bộ phận cán bộ, đảng viên đã không có được điều này. Một bộ phận lãnh đạo đã tỏ ra quan liêu, chủ quan, xa dân đã không kịp thời biết và giải quyết các vướng mắc của người dân. Hậu quả là làm nảy sinh nhiều vấn đề bức xúc ở nhiều địa phương gây khiếu kiện kéo dài, làm ảnh hưởng lòng tin của dân đối với Đảng.

Trên đây chỉ là một vài trong số rất nhiều những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức và hành động của một bộ phận cán bộ hiện nay. Nguyên nhân của những vi phạm đạo đức của cán bộ có nhiều song có thể khái quát trong 3 nhóm chính: một là do những tác động tiêu cực từ môi trường, điều kiện sống và công tác của cán bộ, hai là do ý thức về việc tu dưỡng rèn luyện không tốt của chính bản thân cán bộ, ba là do công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, giáo dục đạo đức cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu và các chế tài pháp luật xử lý những vi phạm không đủ hoặc chưa đủ sự nghiêm minh để răn đe, giáo dục những kẻ vi phạm. Vì lẽ đó, để khắc phục, loại trừ những nhận thức sai lệch của cán bộ, cần phải có những giải pháp đồng bộ, toàn diện và điều quan trọng hơn là phải thực thi được một cách có hiệu quả, trên thực tế những biên pháp cụ thể sau đây:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên. Trước hết là đề phòng những căn bệnh mà cán bộ rất dễ mắc phải mà Hồ Chủ tịch đã cảnh báo từ lâu. Đó là bệnh tham lam, tự tư, tự lợi, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, hiếu danh, bệnh óc lãnh tụ, óc quân phiệt quan liêu, bệnh thiếu kỷ luật, hẹp hòi, bè phái, địa phương chủ nghĩa.v.v. Những căn bệnh đó không loại trừ một ai, nó sẽ xâm nhập vào đầu óc ta bất kể lúc nào ta lơ là mất cảnh giác. Mắc vào chủ nghĩa cá nhân là mắc một căn bệnh đặc biệt nguy hiểm, bởi xét cho cùng những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ thời gian qua đều do chủ nghĩa cá nhân sinh ra, bởi “Chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh khác rất nguy hiểm”8. Bác cũng đã chỉ rõ rằng: “…Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”9. Vì vậy, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là phải đi từ nhận thức đến hành động cụ thể trong việc nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, xem nhẹ vấn đề giáo dục và đánh giá phẩm chất đạo đức nói chung và đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nói riêng sẽ là một sai lầm rất lớn.

Hai là, cần thực hiện nghiêm túc, thường xuyên và thực chất công tác đấu tranh tự phê bình và phê bình trong cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự kiểm điểm mình để chống chủ nghĩa cá nhân như mỗi ngày đều phải rửa mặt. Đấu tranh tự phê bình và phê bình phải được coi trọng về chất chứ tuyệt đối không phải làm theo đợt, theo kiểu hô khẩu hiệu, đánh trống bỏ dùi, chỉ cốt cho có phong trào hình thức. Đây là yêu cầu đối với mỗi cán bộ, đảng viên bởi lẽ, về thực chất, chống chủ nghĩa cá nhân là chống sự tha hoá của chính mình, là mình tự phải giữ cho mình trong sạch trong cơ chế kinh tế thị trường.

Ba là, phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế lựa chọn cán bộ có đủ tài, đức, xứng đáng là “công bộc”, là “ người đày tớ thật trung thành ” của nhân dân như lời Bác Hồ dạy. Nếu như “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” thì tuyệt đối không thể dùng những cái gốc sâu, gốc mọt, cái gốc đã bị tha hoá, biến chất. Bởi vì ”…nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thi hành được…”10. Có một danh nhân đã từng nói: Trong thời loạn thì dùng người có thể nặng xét tài năng, nhẹ xét đức hạnh. Nhưng khi thiên hạ đã thái bình thì phải dùng người tài đức song toàn. Bác có lẽ cũng tán thành phần nào câu nói đó khi khẳng định rằng: “…không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”11. Dứt khoát cán bộ phải là những người có đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung với nước, hiếu với dân, biết yêu dân, kính dân, liên hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, chăm lo điều lợi cho dân, tránh làm việc hại đến dân.

Bốn là, tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên trong mọi cơ quan, đơn vị, mọi tổ chức cơ sở Đảng. Đã có những bài học rút ra từ thực tế: Cán bộ, đảng viên vi phạm phẩm chất đạo đức mà cơ quan, đơn vị, tổ chức Đảng không hề hay biết, vẫn xếp loại đảng viên tốt, vẫn đánh giá là những cán bộ có năng lực và triển vọng phát triển!. Chừng nào vẫn còn có những biểu hiện lơ là, quan liêu trong công tác quản lý cán bộ, còn những biểu hiện nể nang, né tránh trong đấu tranh phê bình, còn hình thức trong kiểm điểm, đánh giá, phân loại đảng viên, trong công tác thi đua - khen thưởng thì sẽ không thể kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời những biểu hiện suy thoái về phẩm chất đạo đức như đã xảy ra thời gian qua.
Năm là, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở, dân chủ ở cơ quan. Phát huy dân chủ trong hoạt động của cơ quan, trong sinh hoạt Đảng, trong quản lý, tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm, bầu cử cán bộ là phương thức quan trọng để kiểm tra, giám sát có hiệu quả việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên. Vì thế, cần chú trọng việc kiểm tra tình hình thực hiện quy chế dân chủ, đồng thời có những chế tài cụ thể hơn trong việc xử lý những vi phạm quy chế dân chủ trong hoạt động của từng cơ quan, đơn vị. Trong các quy định pháp luật về công vụ, cần xác định trách nhiệm rõ ràng của lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan nếu để xảy ra những vi phạm trong cơ quan, đơn vị mình quản lý.

Sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, xây dựng CNXH, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, một đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, mà yêu cầu trước hết phải là phẩm chất đạo đức cách mạng. Bởi một lẽ: Vô luận việc gì đều do người mà ra, thế nên, xét cho cùng, mọi sự cải cách, đổi mới đều dứt khoát phải gắn liền với con người và bắt đầu từ yếu tố CON NGƯỜI. Chúng ta phải thấm nhuần di huấn Bác để lại trong Di chúc: ”Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”12./.

* Ghi chú:

(1) Hồ Chí Minh Toàn tập - Tập 5, NXB CTQG, H.à nội, 2000 – tr.253

(2) Sđd - tr.60

(3) Sđd - tr.249

(4) Sđd - tr. 72

(5) Sđd - tr. 255

(6) Sđd – tr. 264

(7) Sđd - Tập 7, tr.572

(8) Sđd – Tập 5, tr. 255

(9) Sđd - tr. 280

(10) Sđd - tr. 273

(11) Sđd - tr. 253

(12) Sđd - Tập 6, tr.495

Ths. Trần Xuân Long
Trưởng khoa Pháp luật
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:42:03
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để củng cố, xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa[/COLOR][/SIZE]
Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta; là người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - một nhà nước pháp quyền hoàn toàn mới. Ngay từ những ngày đầu khi mới thành lập nhà nước, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước có hiệu quả, ngày 17- 10 -1945, trong thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người nhắc nhở “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật”(1)

Tháng 10- 1947, tại Việt Bắc, với bút danh XYZ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” nhằm mục đích giáo dục và nâng cao trình độ lý luận, tư tưởng và tình cảm cách mạng, nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của người cán bộ nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của cách mạng. Trong tác phẩm này, Hồ Chí Minh đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa cá nhân vì nó là một thứ vi trùng rất độc sinh ra các khuyết điểm nghiêm trọng như bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh hữu danh vô thực, kéo bè, kéo cánh, bệnh cận thị, không biết nhìn xa trông rộng... Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng vạch ra nguyên nhân và phương hướng khắc phục những căn bệnh đó là người cán bộ phải thường xuyên phê bình và tự phê bình, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.

Quan niệm về nhà nước của Hồ Chí Minh luôn gắn liền với dân chủ, Người nói: “Chính phủ Cộng hòa Dân chủ là gì? Là đầy tớ chung của nhân dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ.

Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đầy tớ làm việc cho mình, thì phải giúp đỡ Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, phê bình nhưng không phải là chửi”(2).

Theo Hồ Chí Minh, nhà nước ta phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thế nào là nhà nước của dân? Khi Người làm Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp 1946 đã khẳng định: “ Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giầu nghèo, giai cấp, tôn giáo”(3). Cũng theo điều 32 - Hiến pháp 1946 quy định “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”(4)

Thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp đã được Bác quan tâm và đề ra rất sớm ở nước ta. Theo Người, trong nhà nước của dân thì dân phải là chủ, người dân phải được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Còn người đại diện của dân, do dân cử ra, chỉ là thừa ủy quyền của dân, chỉ là công bộc của dân. Về đạo đức, phẩm chất của cán bộ, công chức, Người phê phán mạnh mẽ thái độ cửa quyền, sách nhiễu của một số người “ Cậy thế mình ở trong ban này, ban nọ, rồi ngang tàng, phóng túng, muốn sao được vậy, coi khinh dư luận, không nghĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân chứ không phải cậy thế với dân”(5)

Quan điểm về nhà nước do dân, trước hết nhà nước phải do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, nhà nước do dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước chi tiêu, hoạt động, nhà nước phải gắn liền với nhân dân : “Nếu không có dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ thì dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ và dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(6)

Đã là nhà nước của dân, do dân, theo Hồ Chí Minh, lẽ tất yếu nhà nước đó phải là nhà nước vì dân, mọi hoạt động của nhà nước đều phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc quyền đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính “ Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân ta phải hết sức tránh”(7). Để có được đội ngũ cán bộ công chức thực sự trung thành, tận tụy với nhân dân, Người nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của công tác cán bộ. Mục vấn đề cán bộ trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc , Bác đã phân tích sâu sắc 5 vấn đề cơ bản có thể tóm tắt như sau:

1. Cần phải : Huấn luyện nghề nghiệp, huấn luyện chính trị, huấn luyện văn hóa, huấn luyện lý luận cho cán bộ.

2. Biết dạy cán bộ và dùng cán bộ: Phải biết rõ cán bộ, cất nhắc cán bộ cho đúng, khéo dùng cán bộ, phân phối cán bộ cho hợp lý, giúp cán bộ cho đúng, giữ gìn cán bộ.

3. Lựa chọn cán bộ: Phải chọn những người rất trung thành và hăng hái trong công việc, luôn quan hệ mật thiết với dân chúng, có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn, luôn giữ kỷ luật.

4. Có 5 cách đối với cán bộ: Chỉ đạo, nâng cao, kiểm tra, cải tạo và giúp đỡ cán bộ.

5. Mấy điểm lớn trong chính sách cán bộ: Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cấn bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”(8).

Năm vấn đề trên đã thể hiện được tầm nhìn bao quát của Bác về công tác cán bộ: Trước hết, để có được đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn thì cần phải thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về cả chính trị, văn hoá và lý luận; Công việc tiếp theo là phải lựa chọn cán bộ cho đúng với năng lực chuyên môn và khéo dùng cán bộ. Tuy nhiên như thế vẫn chưa đủ mà Người còn nhấn mạnh trong quá trình sử dụng cán bộ công việc cần thiết là phải thường xuyên chỉ đạo, nâng cao, kiểm tra, cải tạo và giúp đỡ cán bộ. Điều này có thể rất đúng khi nhận định rằng trong nhiều năm qua, công việc này không được coi trọng dẫn đến sự sa sút nghiêm trọng về phẩm chất của một bộ phận cán bộ, công chức, làm suy yếu bộ máy nhà nước và làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với nhà nước.

Tuy nhiên, những thiếu sót đó đã được Đảng và nhà nước ta nhận ra và đã có nhiều giải pháp khắc phục, điều này đã thể hiện rất rõ trong đường lối và chính sách của Đảng và nhà nước ta trong những năm gần đây. Để phát triển các quan điểm và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân, Đảng và nhà nước ta đã đề ra những mục tiêu cụ thể để củng cố, xây dựng và hoàn thiện nhà nước ta như sau:

- Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính.

- Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.

- Rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, tránh chồng chéo về chức năng, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả.

- Cải cách hành chính theo hướng chuyển một số dịch vụ vốn trước đây do nhà nước đảm nhiệm cho các thành phần kinh tế khác và thực hiện phân cấp mạnh mẽ cho các địa phương, coi trọng hành chính địa phương.

- Nền hành chính nhà nước phải được tổ chức thành một hệ thống ổn định, hoạt động thông suốt, có kỷ cương nghiêm ngặt, cơ quan hành chính và cán bộ, công chức nhà nước chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân, áp dụng các cơ chế, biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa các hành vi mất dân chủ, tự do, tùy tiện, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân.

- Đến năm 2010 đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại. Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thực thi công vụ, tận tụy phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.

Tóm lại, trong không khí Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X, kỷ niệm 116 năm sinh nhật Bác, việc suy ngẫm lại những quan điểm, tư tưởng của Bác và đối chiếu với những vấn đề nổi cộm, bức xúc hiện nay như: công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng; làm trong sạch bộ máy nhà nước; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu tham nhũng… là việc làm có ý nghĩa. Chỉ có thể lấy lại được lòng tin trong nhân dân khi chúng ta kiên quyết đấu tranh để loại bỏ tư tưởng bóc lột, ăn bám; đầu óc tham lam, vụ lợi; chủ nghĩa ích kỷ, cá nhân trong bộ máy nhà nước.

Trong 61 năm qua, quá trình không ngừng đổi mới và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhất là khoảng thời gian 20 năm trở lại đây chính là sự vận dụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước Việt Nam XHCN để dần dần từng bước chúng ta sẽ có một nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân./.

(1) Hồ Chí Minh : Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, t 4, tr 56

(2) Sách đã dẫn , t 5- tr.60

(3), (4) Sách đã dẫn , t 9- tr.591

(5) Sách đã dẫn, t 4 – tr.57

(6) Sách đã dẫn, t 4 – tr.56

(7) Sách đã dẫn , t 4 - 56

(8) Sách đã dẫn, t 5 – tr.269 –284

Th.s: Nguyễn Xuân Thăng
Trưởng Khoa Quản lý Nhà nước
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:42:28
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền giáo dục cách mạng[/COLOR][/SIZE]
Khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu sâu sắc nền giáo dục phong kiến cũng như nền giáo dục thực dân, từ đó chuẩn bị cho những suy tư về việc xây dựng nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập sau này.

Hồ Chí Minh nhận thấy nền giáo dục phong kiến là nền giáo dục kinh viện, xa rời thực tế, không quan tâm đến thực nghiệm, coi kinh sách của thánh hiền là đỉnh cao của tri thức. Mẫu người của nền giáo dục phong kiến hướng tới là kẻ sĩ, là người quân tử, là bậc trượng phu người hoàn toàn khác với kẻ bình dân; Phụ nữ bị tước quyền học vấn. Nền giáo dục thực dân là nền giáo dục ngu dân, không phải để mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho dân, trái lại chỉ làm cho dân “đần độn thêm”. Đó là một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát. Mục đích của nền giáo dục đó là đào tạo những người phục vụ cho chính quyền thực dân. Người đã tố cáo nền giáo dục thực dân trước thế giới, làm cho thế giới hiểu rõ bản chất nền giáo dục “ngu dân”, “nhồi sọ” của chủ nghĩa thực dân, đồng thời thức tỉnh nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Nền giáo dục mới của nước Việt Nam độc lập sau này đã được Hồ Chí Minh chuẩn bị ngay từ những lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên những năm 1925-1927.

Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân, việc xây dựng một nền giáo dục mới đã chính thức được đặt ra “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”. Nền giáo dục cách mạng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh có thể khát quát bao gồm những nội dung sau:

Một là: Mục tiêu của văn hoá giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn hoá bằng giáo dục, có nghĩa là bằng dạy và học nhằm mở mang dân trí, nâng cao kiến thức, bối dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp, những phẩm chất trong sáng và phong cách lành mạnh cho nhân dân… Nền văn hoá giáo dục còn phải đào tạo những lớp người kế tực sự nghiệp cách mạng, xây dựng đất nước giàu mạnh và văn minh “Vì lợi ích mưới năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Hai là: Phải tiến hành cải cách giáo dục đê xây dựng một hệ thống trường lớp với chương trình, nội dung dạy và học thật khoa học, thật hợp lý, phù hợp với những bước phát triển của ta “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; học tập những chân lý phổ biến của Chủ nghĩa Mác- Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”.

Ba là: Học ở mọi nơi, học mọi người; học suốt đời; coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại. Học tập là một quá trình hoạt động gian khổ. Phải rèn luyện những đức tính, những tập quán tốt trong học tập và điều đó đòi hỏi vướt quá không ít khó khăn. Trước hết phải có tinh thần say mê học tập, phải có quyết tâm, phải có nghị lực để học tập không ngừng, hơn nữa còn phải có phương pháp đúng để học tập có hiệu quả…

Bốn là: Phải không ngừng nâng cao Đảng trí. Đối với cán bộ, đảng viên, Người đòi hỏi “Phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam…”

Thấm nhuần tư tưởng của HCM về xây dựng nền giáo dục cách mạng, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, hưởng ứng lời dạy của Người “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, cả nước đã sôi nổi tham gia phong trào diệt giặc ngoại xâm. Trong phiên họp đầu tiên (ngày 3/9/1945), Chính phủ đã đề ra nhiệm vụ xoá nạn mù chữ, ngày 8/9/1945, Chủ tịch HCM ký Sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ và kêu gọi toàn dân tham gia phong trào xoá nạn mù chữ. Đến đầu tháng 3/1946 riêng ở Bắc và Bắc Trung bộ có gần 3 vạn lớp học với 81 vạn học viên. Trong vòng một năm đã có 2,5 triệu người biết đọc, biết viết. Hệ thống giáo dục phổ thông, các trường đại học và THCN cũng bước đầu xây dựng, phát triển theo ba nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học… Tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên (địa phận tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) là các địa phương triển khai mạnh mẽ xây dựng nền giáo dục cách mạng. Hệ thống trường lớp nhanh chóng được hình thành, sau hơn một năm hưởng ứng phong trào xoá nạn mù chữ, hai tỉnh đã giúp hàng vạn người dân thoát mù chữ. Điển hình như hai huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường mở được gần 1.000 lớp học xoá mù chữ cho 14.250 người theo học… Trên 60 năm xây dựng nền giáo dục cách mạng (1945-2007), chúng ta tự hào với những thành tựu to lớn của nền giáo dục nước nhà, đặc biệt là những kết quả giáo dục sau hơn 20 năm đổi mới được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: Sự nghiệp GD-ĐT nước ta tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn. Cơ sử vật chất kỹ thuật được tăng cường, quy mô đào tạo được mở rộng, nhất là các bậc THCN và dạy nghề. Trình độ dân chí được nâng lên. Giáo duc và khoa học công nghệ được coi là quốc sách trong chiến lược phát triển đất nước.

Những tư tưởng của HCM về xây dựng nền giáo dục cạc mạng thể hiện rõ sự ưu việt của nền giáo dục tiến bộ, hướng tới mục tiêu giải phóng con người , cho con người, vì con người. Ngày nay, những tư tưởng đó của Người vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn , giúp chúng ta xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà ngày càng tiến bộ, đáp ứng tốt cho nhu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

GVC Nguyễn Quỳnh Giao - Trưởng khoa XDĐ
Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:42:52
“Thanh niên với việc học tập và hành động theo tư tưởng Hồ Chí Minh”[/COLOR][/SIZE]
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm lí luận chính trị toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là học tập những giá trị đạo đức trong sáng. Bởi trong con người Hồ Chí Minh tư tưởng và đạo đức là một, suy nghĩ và hành động là thống nhất.

Cả cuộc đời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vấn đề chăm lo giáo dục thanh niên. Bác coi tương lai, tiền đồ của tổ quốc và sự thành công của cách mạng phần lớn phụ thuộc vào thanh niên.

Đồng thời các thế hệ thanh niên nước ta cũng nhất mực yêu thương, quí trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, không ngừng học tập, phấn đấu làm theo lời dạy của người

Có thể thấy nội dung thanh niên học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở rất nhiều vấn đề, song có thể khái quát ở những vấn đề chính sau đây.

Thứ nhất:

Thanh niên phải có lí tưởng, có ý chí, có hoài bão cách mạng.

Trong bài “khuyên thanh niên” người dạy:

“ Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”

Theo Hồ Chí Minh mọi việc muốn thành công thanh niên phải nhận thức rõ mọi vấn đề, phải giác ngộ lý tưởng, phải hiểu rõ mọi việc mình làm và quan trọng hơn cả là thanh niên phải giữ được độ bền của ý chí, phải kiên trì bền bỉ, thắng không kiêu bại không nản, quyết làm tới cùng và đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thứ hai:

Thanh niên không ngừng học tập nâng cao trình độ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thanh niên là lực lượng lao động chính của xã hội, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta hiện nay đòi hỏi thanh niên càng phải không ngừng học tập và nâng cao trình độ.

Song, thanh niên học cái gì, học như thế nào, học ở đâu và học bằng cách nào? tất cả những câu hỏi trên được Chủ tịch Hồ Chí Minh dậy dỗ, chỉ bảo thanh niên rất cụ thể rõ ràng trong mọi bài viết của mình.

Bác Hồ dạy thanh niên phải học tập chủ nghĩa mác lênin để trang bị cho mình thế giới quan, phương pháp khoa học và cách mạng. Phải học văn hoá, khoa học kỹ thuật và công nghệ, học chuyên môn nghiệp vụ...để không ngừng chiếm lĩnh đỉnh cao, trí tuệ, đi đầu trong lao động sáng tạo, tiến mạnh vào kinh tế tri thức.

Học ở đâu? Bác dậy thanh niên học ở nhà trường, học trong thực tiễn cuộc sống, học ở bạn bè

Học như thế nào? Bác dạy học phải nắm chắc lý luận, học lý luận gắn liền với thực tế, học đi đôi với hành, học một cách chủ động sáng tạo

Học để làm gì? Bác dậy học để làm người làm cán bộ để phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc.

Thứ ba:

Thanh niên học tập rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Bác Hồ luôn dạy chúng ta đạo đức cách mạng là gốc của ngưòi cán bộ cách mạng. Gốc có vững thì cây mới bền. Người cán bộ cách mạng có đạo đức thì cách mạng mới thành công.

Học tập đạo đức cách mạng là học tập tính cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Thanh niên phải cần cù say mê, sáng tạo trong học tập, lao động và bảo vệ tổ quốc.

“Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà”. (Lễ khai mạc trường đại học nhân dân Việt Nam ngày 19-1-1955).

Tóm lại
Thanh niên học tập và hành động theo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề lớn cơ bản lâu dài, có phạm vi toàn diện và sâu sắc. những vấn đề nêu trên chỉ là những suy nghĩ bước đầu chúng ta còn nhiều cách tiếp cận khác để tiếp tục làm cho việc thanh niên học tập và hành động theo tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng có hiệu quả hơn.

Nguyễn Thị Thu Huyền
Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:43:24
Chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay[/COLOR][/SIZE]
Gần 16 thập kỷ tồn tại và phát triển, chủ nghĩa Mác-Lê-nin luôn phải đấu tranh quyết liệt với hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa chống cộng và các trào lưu cơ hội, xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lôgíc của cuộc đấu tranh sinh tử ấy đã chỉ ra rằng: khi cách mạng đang ở cao trào, đang thắng lợi thì giai cấp tư sản, những kẻ chống cộng và cơ hội tìm trăm phương, ngàn kế để chống đỡ, phòng ngự, nhưng khi cách mạng gặp khó khăn, tạm thoái trào thì chúng chuyển mạnh sang phản công và tấn công, tập trung công kích chủ nghĩa Mác-Lê-nin.

Vào những năm cuối thế kỷ XX, sự kiện chính trị chấn động địa cầu đối với những người cộng sản đã xảy ra: chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ và tan rã, cách mạng vô sản thế giới lâm vào thoái trào. Đó là một thực tế đau xót của chủ nghĩa xã hội; đồng thời là cơ hội thuận lợi cho các thế lực chống chủ nghĩa xã hội lợi dụng để đả kích, nói xấu, xuyên tạc, đòi loại bỏ chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Kẻ thù cùng những phần tử cơ hội, xét lại đang lớn tiếng tuyên bố chủ nghĩa Mác-Lê-nin đã tỏ ra lỗi thời, nên đoạn tuyệt với nó. Trong họ, có người cho rằng hệ thống quan điểm lý luận của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin chỉ là một phần nhận thức nên không thể xem đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho nhân dân lao động tiến bộ trong thời đại mới.

Hoà cùng bản \"hợp xướng\" chống chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch ở bên ngoài, các phần tử bất mãn về chính trị ở nước ta cũng lớn tiếng đòi Đảng ta phải \"tự nguyện lột xác\", phải từ bỏ nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Một số kẻ ác ý còn ví von rằng phải từ bỏ \"con thuyền Mác-Lê-nin\" bởi trong quá trình đưa dân tộc ta đến bến bờ độc lập, đưa nhân dân ta đến bến bờ hạnh phúc, nó đã bị \"mắc cạn\". Chúng đòi hỏi Đảng ta phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập… Các phần tử chống đối, bất mãn đưa ra những luận điểm hết sức sai trái, cho rằng nguyên nhân của mọi cái \"khốn khổ\", \"lạc hậu\", \"trì trệ\"… là do sự \"nô lệ về ý thức hệ\". Song, trong thử thách nghiệt ngã nhất của lịch sử từ khi xuất hiện chủ nghĩa Mác-Lê-nin trong ba thập kỷ qua, những người Cộng sản Việt Nam cùng phần lớn quần chúng nhân dân của dân tộc đã có nhận thức và xử lý riêng của mình. Trong chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam gần ba mươi năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam, một mặt đã từng bước nhận thức những biến động dữ dội của thời đại hiện nay, mặt khác vẫn vững tin vào tính cách mạng, tính khoa học và khả năng cải tạo xã hội của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhờ vậy, việc giai cấp công nhân và chính đảng cách mạng của mình lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, làm vũ khí tinh thần trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa là đòi hỏi khách quan của cuộc đấu tranh với mọi lực cản trên con đường quá độ. Đại hội X của Đảng đã xác định: \"Kiên định chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng\"(1).

Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu trên, trong nhận thức, tư duy và hành động của những người cộng sản Việt Nam, và mọi người dân đất Việt phải đổi mới và phát triển để nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề cuộc sống dân tộc cũng như nhân loại đặt ra.

Trước tiên, cần nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để tiếp cận đúng bản chất, đặc điểm của thế giới hiện đại, đặc biệt là những vận hội, thách thức của nó đưa đến cho từng dân tộc. Vì chỉ trên đỉnh cao của tư duy lý luận và tinh thần cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh mới giúp cho chúng ta kiên định, tin tưởng, lạc quan đối với cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, hy sinh.

Thế giới ngày nay, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, chỉ còn lại một số nước tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa với những tìm tòi, khám phá mới phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia, dân tộc. Các nước lớn đang tranh giành ảnh hưởng trong việc thiết lập thế giới một cực hay đa cực, song vẫn là một thế giới mà chủ nghĩa tư bản đang nắm quyền chi phối. Với những ưu thế về kinh tế, về khoa học và công nghệ và sự điều chỉnh trong các chính sách để thích nghi,… chắc chắn rằng, chủ nghĩa tư bản còn tồn tại và có thể có những bước phát triển mới. Nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thể giải quyết được những mâu thuẫn thời đại; không thể chữa khỏi được những căn bệnh trầm kha, những ung nhọt vốn có của nó. Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng nhận thức rõ ràng hạnh phúc của con người không chỉ là sự dư thừa về vật chất, mà còn là sự phong phú của đời sống tinh thần, của những quan hệ xã hội nồng ấm, bình đẳng. Cho nên, dù chủ nghĩa tư bản có bước phát triển thì cũng khó có thể đáp ứng được nhu cầu mọi mặt đời sống của con người. Vì vậy, một bộ phận không nhỏ nhân loại cần lao đã nhận ra rằng, cần phải vượt qua chủ nghĩa tư bản nếu như muốn sống tốt hơn. Thực tế đó đã được các nhà kinh điển lập luận sâu sắc về khoa học và đậm đà tính nhân đạo, nhân văn khi đề cập đến tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, một số học giả tư sản có thái độ khách quan, khoa học và hiểu rất rõ những nghịch lý trong lòng xã hội tư bản đã tiên đoán rằng, thế kỷ XXI vẫn sẽ là thế kỷ của chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi lợi ích của các giai cấp, dân tộc và nhân loại đan xen vào nhau đòi hỏi phải được giải quyết đồng thời và do đó, các quốc gia, dân tộc không thể thành công trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của đất nước mình nếu không tham khảo đến lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Do vậy, có vị giáo sư nổi tiếng không phải là người cộng sản đã khẳng định tư tưởng của Mác là tư tưởng của tương lai và ông đã kêu gọi nhân loại hãy quay về với tư tưởng của Mác.

Chủ nghĩa Mác-Lê-nin là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, là lý luận đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, nhưng cũng là lý luận của cuộc đấu tranh giải phóng nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới. Chắc chắn rằng, trên con đường vươn tới một xã hội mới nhân đạo, công bằng và hợp lý hơn, giai cấp công nhân và nhân dân lao động các dân tộc, trong sự lựa chọn của mình, đã và vẫn sẽ lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin làm ngọn cờ tư tưởng để dẫn đường, chỉ lối. Sự hồi phục và phát triển của các Đảng Cộng sản, các đảng cánh tả, các phong trào xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã bị tan rã trước đây là minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất cho điều đó. Song, mặt khác người cộng sản Việt Nam cũng cần bổ sung vào nhận thức của Đảng, của dân tộc những phát triển mới của thế giới hiện đại. Đó là sự phát triển vượt bậc của sản xuất vật chất, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự xuất hiện kinh tế tri thức; diễn ra toàn cầu hoá, trước hết là toàn cầu hoá về kinh tế… Tình hình đó bắt buộc giai cấp công nhân, nhân dân lao động thế giới, các quốc gia, dân tộc phải kết hợp chặt chẽ lợi ích giai cấp, dân tộc, nhân loại; biết sử dụng cả hợp tác và cạnh tranh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội trong sự hội nhập thế giới, hợp tác song phương, đa phương. Đó chính là những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lê-nin về chân lý bao giờ cũng cụ thể, cách mạng là sáng tạo. Đó cũng là nghệ thuật đấu tranh cách mạng Hồ Chí Minh và cũng là phương pháp, tác phong của Người trong giải quyết mối quan hệ lý luận và thực tiễn; lý thuyết và thực hành.

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những đóng góp to lớn trong quá trình phát triển chủ nghĩa Mác-Lê-nin về các vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về phát huy sức mạnh của nhân dân, lấy dân làm gốc; về đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân; về văn hoá, về đạo đức… Cùng với chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang soi đường thắng lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta vì độc lập, thống nhất Tổ quốc, vì mục tiêu \"dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh\". Vì thế, tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong 20 năm đổi mới để rút ra bài học kinh nghiệm và xác định những vấn đề cốt tử đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển vững chắc trong tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, thời cơ và nguy cơ đan xen vào nhau. Đảng ta đã khẳng định phải: \"Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra\"(1). Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kiên định và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của nước ta và xu thế vận động của thời đại để giải đáp cho được những vấn đề nóng bỏng của đất nước hiện nay. Đây là vấn đề sinh tử, có tính nguyên tắc liên quan đến sự thành bại của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đến cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa chống cộng và các trào lưu cơ hội, xét lại.

Trên cơ sở lập trường kiên định có tính nguyên tắc đó, hơn bao giờ hết, cần đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ với nghiên cứu triển khai và tổng kết thực tiễn trong nước, học tập có chọn lọc kinh nghiệm của các nước khác, kịp thời làm sáng tỏ những vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về Đảng cầm quyền và công tác xây dựng Đảng, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa\"(1)… làm cơ sở để \"xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận vững chắc cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững mục tiêu lý tưởng, giữ vững niềm tin, bảo đảm thống nhất nhận thức và hành động\"(2). Trong quá trình nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải \"hết sức chú trọng nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn và sự mạnh dạn khám phá, sáng tạo\"(3); phải \"học tinh thần xử trí mọi việc\", \"dĩ bất biến, ứng vạn biến\" theo phương pháp Hồ Chí Minh; phải bảo đảm \"dân chủ trong nghiên cứu lý luận\". Cần khắc phục hiện tượng coi chủ nghĩa Mác-Lê-nin là \"nhất thành bất biến\" như một lược đồ cứng nhắc làm mất đi khả năng \"tự phát triển\" với tư cách là một khoa học và thủ tiêu tính thực tiễn của nó đối với lịch sử là một cương lĩnh hành động cách mạng.

Đồng thời, nhất thiết phải làm tốt việc tổ chức thực tiễn và tổng kết quá trình đó để phát triển lý luận, đáp ứng nhu cầu phát triển của thực tiễn, thúc đẩy thực tiễn tiến lên. Phải lấy thực tiễn để đối chiếu, kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển lý luận, chứ không phải lấy lý luận để chứng minh cho thực tiễn. Vì thế, Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: Trong quá trình đổi mới tư duy, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận cần bám sát thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại… và đời sống nhân dân để phát hiện, tìm tòi và khái quát chỉ ra những vấn đề có tính quy luật, xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, làm tốt việc tổ chức thực tiễn và tổng kết thực tiễn phải luôn đi song hành với cuộc đấu tranh không khoan nhượng, trước hết với sự xuyên tạc, phá hoại bằng những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm của các thế lực thù địch, những kẻ chống cộng và cơ hội, xét lại đối với chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Mặt khác, cần phê phán, khắc phục triệt để mọi biểu hiện lệch lạc, sai lầm cả trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, kiên quyết khắc phục \"tự diễn biến\" trong từng tổ chức, từng đơn vị.

BCĐ (Theo Thiếu tướng, TS Nguyễn Tiến Quốc, TC Giáo dục lý luận chính trị quân sự)
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:43:51
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh[/COLOR][/SIZE]
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác Hồ đã dặn lại toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta những công việc phải làm khi Tổ quốc đã thống nhất, trong đó có nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Bác viết: \'\'Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, và cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt hơn\'\'. Người còn chỉ rõ: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá VIII) đã đề ra nhiệm vụ: \'\'Toàn Đảng tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình”.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Tư tưởng Hồ Chi Minh trên cả ba mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh đang là một yêu cầu bức xúc của toàn Đảng, toàn dân ta.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng là làm cho hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân ta, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Tại lớp huấn luyện đảng viên mới của Thành uỷ Hà Nội, ngày 14-5-1966. Bác Hồ nói: \'\'Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt. Muốn xây dựng chi bộ \"bốn tốt\'\' thì phải bồi dưỡng lập trường vô sản cho đảng viên. Muốn có lập trường vô sản vững chắc thì đảng viên phải có ý thức giai cấp, đồng thời phải có lý luận cách mạng. Không có lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị là kiên định con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong những bài học mà Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết sau mười năm đổi mới, bài học về giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đưa lên hàng đầu. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt trong lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng về tổ chức là tăng cường sức chiến đấu của Đảng từ Trung ương đến cơ sở. Đại hội VIII của Đảng nhận định: \'\'Tổ chức cơ sở Đảng ở nhiều nơi yếu kém, phương thức lãnh đạo và sinh hoạt lúng túng, có trình trạng vừa kém dân chủ, vừa thiếu kỷ luật, kỷ cương. Một số cán bộ và cấp uỷ chưa tôn trọng và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, bệnh quan liêu, độc đoán, cục bộ, địa phương, kèn cựa, địa vị, cá nhân chủ nghĩa rất nặng. Không ít nơi nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng\'\'.

Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng muốn có hiệu quả thiết thực, trước hết, phải gắn liền với phong trào quần chúng và phải dựa vào quần chúng.

Thông qua phong trào quần chúng, Đảng kiểm nghiệm, hoàn chỉnh và cụ thể hoá đường lối chính trị. Và cũng từ phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng lựa chọn những người ưu tú kết nạp vào Đảng. Thực tiễn cách mạng cho thấy nơi nào có phong trào quần chúng mạnh mẽ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị thì ở đó, tổ chức Đảng được phát triển và củng cố, cán bộ, Đảng viên được rèn luyện và thử thách. Trái lại, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng làm tốt thì phong trào quần chúng càng lớn mạnh. Quá trình phát triển và lớn mạnh của Đảng gắn liền với sự phát triển của xã hội và sự lớn mạnh của phong trào quần chúng. Phong trào quần chúng là cơ sở, là nguồn sống của Đảng, là mảnh đất tốt, từ đó, Đảng lớn lên không ngừng.

Sức mạnh của Đảng và sự thắng lợi của cách mạng bắt nguồn từ chỗ Đảng luôn luôn gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Nhân dân ta vốn rất cách mạng, hết mực tin yêu và kính trọng Đảng. Mọi hành động của cán bộ, đảng viên đều có ảnh hưởng đến lợi ích của nhân dân. Vì vậy, quần chúng rất mong muốn và đòi hỏi được góp phần tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Hàng ngày, tiếp xúc với cán bộ, đảng viên, quần chúng hiểu được và đánh giá đúng hoạt động của các tổ chức Đảng, cán bộ và đảng viên. Dựa vào quần chúng và vận động quần chúng tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nhất định sẽ nâng cao được sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, củng cố sự liên hệ giữa Đảng và quần chúng, nâng cao uy tín của Đảng. Tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng, quần chúng đấu tranh loại bỏ dần tệ quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, tệ cường hào, gia trưởng, tệ tham nhũng, buôn lậu cùng những biểu hiện tiêu cực khác của một số cán bộ, đảng viên, ngăn chặn việc kết nạp những người không đủ tiêu chuẩn vào Đảng và phát hiện những phần tử cơ hội đang thao túng trong một số tổ chức Đảng và bộ máy Nhà nước. Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng nhất định sẽ khẳng định vai trò và tác dụng tích cực của quần chúng nhân dân, của Mặt trận và các đoàn thể như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ...

Nét đặc sắc trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng chính là mối liên hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Bác Hồ nói: \'\'Nhân dân giúp đỡ xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình\'\'.

Để bảo đảm và phát huy kết quả của việc quần chúng tham gia chỉnh đốn Đảng, các cấp uỷ Đảng thực hiện tốt, có nền nếp - không làm chiếu lệ và hình thức - việc tự phê bình của các tổ chức Đảng trước quần chúng và mở rộng chế độ quần chúng phê bình các tổ chức Đảng, cán bộ và đảng viên.

Đối với những ý kiến phê bình đúng của quần chúng thì các tổ chức Đảng tiếp thu nghiêm túc và có biện pháp sửa chữa. Đối với những ý kiến không đúng thì phân tích và giải thích đầy đủ với thái độ thực sự “trọng dân” và có ý thức trách nhiệm.

Nhấn mạnh vai trò và tác dụng của quần chúng không có nghĩa là coi nhẹ sự hoạt động và sinh hoạt của các tổ chức Đảng và cũng không thể lấy phê bình của quần chúng thay thế cho tự phê bình và phê bình trong Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn luôn là một di sản vô giá để làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh.
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:44:15
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội[/COLOR][/SIZE]
GS, VS. Nguyễn Duy Quý

Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, trong đó tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội là một bộ phận hết sức quan trọng.
Nhất quán với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh quan niệm chủ nghĩa xã hội là một học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô sản nhằm xoá bỏ ách thống trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện lý tưởng giải phóng giai cấp và giải phóng toàn thể xã hội loài người.
Chủ nghĩa xã hội còn được hiểu với tư cách là một chế độ xã hội thuộc hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà việc xây dựng và hoàn thiện nó như một quá trình lịch sử lâu dài để từng bước đạt tới mục tiêu.
Cái mới và là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh khi nói về bản chất của chủ nghĩa xã hội là ở chỗ Người phát hiện thấy lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã chung đúc tất cả lý tưởng, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội.
Hồ Chí Minh còn thấy một điểm rất quan trọng thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội là muốn đạt tới lý tưởng, mục tiêu xã hội chủ nghĩa phải thường xuyên chống lại chủ nghĩa cá nhân. Người nhìn nhận chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội bảo đảm sự phát triển hài hoà giữa cá nhân và xã hội. Hồ Chí Minh làm phong phú thêm hướng tiếp cận chủ nghĩa xã hội.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã làm sáng tỏ bản chất chủ nghĩa xã hội từ những kiến giải về kinh tế, chính trị và xã hội. Ngoài những kiến giải ấy, Hồ Chí Minh còn nhìn nhận bản chất chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức, văn hoá. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội đối lập, xa lạ với chủ nghĩa cá nhân, nhưng không hề phủ nhận cá nhân, trái lại, tôn trọng con người, phát triển mọi năng lực cá nhân vì phát triển xã hội và hạnh phúc của con người. Đây là chiều sâu trong tư duy biện chứng, trong nhãn quan văn hoá, đạo đức của Hồ Chí Minh.
Theo Hồ Chí Minh, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới mong hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Để có đạo đức cách mạng thì phải loại trừ mặt trái của nó là chủ nghĩa cá nhân. Đó là một kẻ thù nguy hiểm ngăn cản chúng ta đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng, tự mình phá huỷ sự nghiệp của mình. Đây chính 1à nỗi lo toan thường trực của Người.
Từ tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927) cho đến Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân (1969), Hồ Chí Minh không lúc nào xa rời điều quan tâm lớn lao đó. Qua các tác phẩm “Tư cách của người Kách mệnh”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Người nhấn mạnh rằng: “Không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”1.
Từ đó, Người đưa ra lời khẳng định: “tư tưởng xã hội chủ nghĩa là chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần phải chống chủ nghĩa cá nhân, thực hiện sự tôn trọng và đề cao nhân cách, bảo đảm cho mỗi cá nhân phát triển lành mạnh nhân cách của mình trong sự hài hoà giữa cá nhân và xã hội. Nhìn nhận mặt bản chất quan trọng này, Hồ Chí Minh đưa ra quan niệm, chủ nghĩa xã hội là xã hội trong đó mình vì mọi người, mọi người vì mình. Do đó, một trong những nét nổi bật của con người xã hội chủ nghĩa là phải đạt tới trình độ phát triển cao về đạo đức, về nhân cách, đủ sức chiến thắng chủ nghĩa cá nhân. Xã hội xã hội chủ nghĩa vừa đòi hỏi, vừa tạo ra những con người như thế và chăm lo giáo dục, phát triển con người 1à chiến lược quan trọng bậc nhất của chủ nghĩa xã hội.
Điều cần lưu ý là, mặc dù rất chú trọng nhân tố đạo đức trong sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và coi đạo đức xã hội chủ nghĩa là thuộc về bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội, song Hồ Chí Minh không bao giờ xem đạo đức là hiện tượng nằm ngoài tác nhân khác, gây nên sự chia cắt, đối lập giữa kinh tế với đạo đức. Người đề cao sức mạnh tinh thần đạo đức, nhưng không rơi vào duy ý chí, chủ quan hoặc chủ nghĩa trừu tượng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội luôn luôn nhất quán tính thống nhất biện chứng giữa các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và đạo đức. Từ cách tiếp cận đó về chủ nghĩa xã hội, thông qua hoạt động lý luận và thực tiễn hết sức phong phú, Hồ Chí Minh đã rút ra những kết luận rất sâu sắc về bản chất của chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội có khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân.
Hồ Chí Minh đã nói về chủ nghĩa xã hội một cách sâu sắc và khoa học, nhưng lại giản dị có sức cảm hoá rất lớn đối với nhân dân.
Với câu hỏi chủ nghĩa xã hội là gì ? Người trả lời rất sáng tỏ: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”2.
Luận đề tổng quát đó được Người cụ thể thêm “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”3. “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh “4.
Bản chất của chủ nghĩa xã hội còn được làm sáng tỏ khi Người nói tới trọng trách của Đảng với nhân dân, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Hồ Chí Minh luôn luôn lấy cuộc sống hạnh phúc của nhân dân làm thước đo hiệu quả, làm căn cứ đánh giá công việc của Đảng và Nhà nước ta. Bản chất và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội có được bộc lộ ra không, có được phản ánh đúng đắn không là ở đó. Người viết: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”5.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, Hồ Chí Minh đòi hỏi cao như thế nào sự tận tụy, hy sinh, sự mẫu mực trong sáng của Đảng và Nhà nước, biểu hiện không những ở tổ chức và thể chế, mà còn ở từng người, từng cán bộ, đảng viên của Đảng, những công chức của bộ máy chính quyền, những công bộc của dân. Người thấu hiểu sâu sắc rằng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi như vậy. Chính điều này làm sáng tỏ biết bao sự nhạy cảm và tinh tế của Hồ Chí Minh khi Người đặt lý luận về Đảng và Nhà nước của dân, do dân, vì dân vào vị trí cốt yếu của lý luận về chủ nghĩa xã hội và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cũng như vậy, Người xác định đạo đức và tư cách của Người cách mạng ở vị trí quan trọng hàng đầu quyết định thành bại của công cuộc kiến thiết chủ nghĩa xã hội.
Mục đích của chủ nghĩa xã hội, theo Hồ Chí Minh là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động. Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là một trong những vấn đề quan trọng mà Người đặc biệt quan tâm. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân, chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân; dân chủ là chìa khoá của mọi tiến bộ và phát triển. Quan niệm này đã đặt nền tảng và giữ vai trò chỉ đạo trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta.
Cùng với chế độ mới, nền kinh tế mới, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh tới nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa trong mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Bao quát mục tiêu đó, Người nhắc nhở chúng ta: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất... chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”6.
Về động lực, nhất là động lực bên trong, nguồn nội lực thúc đẩy công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã đưa ra những chỉ dẫn thiết thực và quý báu. Người khẳng định nhân tố, động lực quan trọng và quyết định nhất là con người “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”7. Truyền thống yêu nước của dân tộc, sự cố kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân là sức mạnh tổng hợp tạo nên động lực quan trọng của chủ nghĩa xã hội. Người luôn luôn xây đắp khối đoàn kết dân tộc và nhấn mạnh: đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh vô địch.
Cùng với động lực tinh thần, Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế, sản xuất, kinh doanh, giải phóng mọi năng lực sản xuất vì ích nước, lợi nhà. Người còn chủ trương áp dụng “Tân kinh tế chính sách” của Lênin khi Người khởi thảo điều lệ “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội”. Dự cảm và trù tính về tương lai của Người là như vậy.
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh văn hoá, giáo dục, khoa học là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người quan tâm đến vai trò của văn hoá ngày càng tăng trong sự phát triển, văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi; phải xúc tiến công tác văn hoá để đào tạo con người mới và cán bộ mới. Đó là nguồn vốn, là của cải quý báu nhất của quốc gia.
Ngoài các động lực bên trong, những nhân tố nội sinh là hết sức quan trọng, theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải kết hợp được với các nhân tố bên ngoài (ngoại sinh). Một trong những động lực bên ngoài là sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.
Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đứng trước một thực tế là trở thành Đảng cầm quyền. Nỗi quan tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền là làm sao cho Đảng không trở thành Đảng quan liêu, xa dân, thoái hoá, biến chất làm mất lòng tin của dân. Đây là điều hệ trọng.
Hồ Chí Minh đặc biệt lưu tâm tới cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên. Người coi đó là điểm mấu chốt. Chỉ như vậy, Đảng mới mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mới xứng đáng với lòng tin của nhân dân.
Hồ Chí Minh đã nêu lên những chỉ dẫn hết sức sâu sắc: “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”8 vì lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết, dân chúng là “nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”9.
Trong phương thức lãnh đạo của Đảng, Người nhắc nhở “phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng, phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề mà hoá nó thành cái chỉ đạo nhân dân”10. “Những cán bộ có khuyết điểm thường sợ dân nói. Nhưng nếu thành thật với dân biết mình có lỗi, xin lỗi dân thì dân cũng rất vui lòng và sẽ tha thứ cho”11.
Hồ Chí Minh quan niệm thống nhất lý luận với thực tiễn, gắn lý luận với thực tiễn là nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Lý luận hoá thực tiễn từ sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn một cách khoa học và thực tiễn hoá lý luận từ sự vận dụng và phát triển lý luận trong thực tiễn một cách sáng tạo - đó là nét nổi bật thuộc về nội dung, phương pháp tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung cũng như tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội nói riêng.
Trong tình hình thế giới phức tạp hiện nay, các thế lực thù địch của chủ nghĩa xã hội tiếp lục tìm mọi cách để bài bác, phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin. Luận điệu họ thường nêu lên một cách sai lầm là họ đem đồng nhất sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin, sự đổ vỡ của hệ tư tưởng mác xít. Điều cần lưu ý là có một số người vốn là mácxít, nay dao động do những động cơ sai lầm khác nhau, dẫn tới sự hoài nghi học thuyết Mác-Lênin, hoài nghi con đường đi tới chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thậm chí chống lại đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định con đường đi tới chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn.
Những thành tựu quan trọng mà nhân dân đã đạt được trong thời gian qua, đặc biệt là trong hơn 17 năm đổi mới là một thực tế không ai có thể phủ nhận được. Con đường đi tới của cách mạng nước ta có nhiều thuận lợi, nhưng không ít khó khăn. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với sự lãnh đạo sáng tạo, đúng đắn của Đảng ta, nhân dân ta sẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi là ngọn cờ soi sáng con đường cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi.
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:44:52
Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh[/COLOR][/SIZE]
I.Những sáng tạo cách mạng của chủ tịch Hồ Chí minh trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam
Sáng tạo là một quá trình, trong đó những cá nhân sáng tạo có tính nhạy cảm cao đối với một vấn đề mà người khác không có. Khi đứng trước những hoàn cảnh phức tạp, người có tính nhạy cảm cao sẽ biến những tình huống cực kỳ khó khăn thành vấn đề để giải quyết, từ đó cân nhắc, khám phá để tìm ra cách giải quyết. Sáng tạo là tạo ra cái mới. Hoạt động sáng tạo là vượt ra khỏi cái cũ, kinh nghiệm cũ. Sáng tạo là biểu hiện cao của đời sống nội tâm, của tâm hồn con người. Sáng tạo còn là sự lựa chọn những phương pháp mới, phương tiện mới với cách giải quyết mới.

Sáng tạo cách mạng khác với những hoạt động sáng tạo khác. Nó xuất hiện trong những tình huống cách mạng và có tác dụng to lớn làm thay đổi tình huống cách mạng. Sáng tạo cách mạng là sự thay đổi về chất phương pháp, phương thức và cách giải quyết các vấn đề cách mạng đặt ra. Đó là việc đưa ra chiến lược và sách lược cách mạng mới, cách biện giải hoàn toàn mới, phương pháp cách mạng mới. Sáng tạo cách mạng có vai trò to lớn thúc đẩy xã hội phát triển.

Xuất phát từ cách hiểu bản chất khái niệm sáng tạo cách mạng như vậy, chúng ta có thể đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu những sáng tạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Nhìn lại quá trình vận động của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX chúng ta thấy, vị lãnh tụ của Đảng, của cách mạng Việt Nam luôn luôn thể hiện tinh thần của một nhà cách mạng sáng tạo. Dù ở đâu, vào thời điểm nào Hồ Chí Minh cũng luôn luôn nắm vững bản chất các sự kiện và các mối liên hệ bên trong và bên ngoài, từ đó đưa ra chủ trương, giải pháp, cách ứng xử hợp lý nhất, sáng tạo nhất. Có nhiều tư liệu về cách ứng xử thông minh, tinh tế của Người, thể hiện một nhân cách sáng tạo cao cả. Bài viết này, chỉ khai thác và nhấn mạnh thêm một số hoạt động sáng tạo cách mạng của Hồ Chí Minh có tác dụng tạo ra những chuyển biến cách mạng đối với dân tộc và thời đại.

1. Sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.

Vào cuối thế kỷ thứ XIX và những năm đấu thế kỷ XX, cả dân tộc Việt Nam bị đè nén bởi hai tầng áp bức, bóc lột của đế quốc Pháp và chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Không cam chịu làm nô lệ, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp đứng lên chống bọn đế quốc thực dân nhưng không thành công. Các sĩ phu yêu nước đều trăn trở về con đường giải phóng dân tộc, nhưng chỉ có anh thanh niên Nguyễn Tất Thành đã hành động hết sức sáng tạo mang tính cách mạng. Được Phan Bội Châu định đưa sang Nhật để du học và để làm cách mạng, nhưng Nguyễn Tất Thành đã từ chối vì Anh nghĩ rằng, nhờ Nhật chống Pháp thì chẳng khác nào \"đưa cọp cửa trước, rước beo cửa sau\". Nguyễn Tất Thành cho rằng, cần phải tìm hiểu về thế giới, về nước Pháp trước khi lựa chọn con đường cách mạng cho dân tộc mình. Tháng 6- 1911, Nguyễn Tất Thành đã tâm sự: \"Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, Tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta\"l.

Điều này thể hiện trí tuệ và sự mẫn cảm chính trị đặc biệt của Anh. Trong tình thế cách mạng lúc đó, những con đường cách mạng, những phương pháp cũ như khởi nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám, Đông du của Phan Bội Châu hay Đông kinh nghĩa thục của Lương Văn Can đều đi đến bế tắc, thì việc lựa chọn một con đường mới, độc đáo là một sáng tạo cách mạng. Trải qua gần l0 năm lăn lộn với cuộc sống khó khăn, với phong trào cách mạng các nước phương Tây, chịu ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga, người thanh niên yêu nước Nguyễn ái Quốc (bí danh của Nguyễn Tất Thành) mới tìm đến được với chủ nghĩa Mác - Lênin và nhận ra con đường tất yếu mà cách mạng Việt Nam phải đi để giải phóng cho dân tộc mình. Tháng 7- 1920, khi đọc \"Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa\" của V.I.Lênin, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định con đường Cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng vô sản giải phóng dân tộc và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đây là kết quả quan trọng của tư duy sáng tạo cách mạng của Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn con đường cách mạng. Nó vượt ra khỏi tư duy chính trị của người Việt Nam đương thời và đến với ánh sáng của thời đại mới là chủ nghĩa Mác - Lênin.

2. Hồ Chí Minh tích cực tham gia phong trào cộng sản quốc tế trước khi tiến hành vận động phong trào cách mạng Việt Nam.

Theo chúng tôi, đây cũng là một sự sáng tạo cách mạng của Người. Khi nghiên cứu về Hồ Chí Minh, chúng ta thấy nguyện vọng tha thiết nhất của Người là giải phóng dân tộc, nhưng không đi theo con đường đấu tranh cho độc lập dân tộc của các bậc tiền bối như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, v.v. Mặt khác, trong khi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, Người đã tích cực tham gia phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tham gia ĐCS Pháp; tham gia các tổ chức chính trị, xã hội ở Pháp; viết báo, viết văn chống thực dân Pháp; tổ chức ra Hội liên hiệp thuộc địa; tham gia quốc tế nông dân; tham gia Ban phương Đông QTCS; dự Đại hội V QTCS; dự Đại hội III Quốc tế Công hội đỏ, v.v. Đây là nét đặc trưng của sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh. Người đã nhận ra rằng, kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa là của giai cấp vô sản là bọn đế quốc thực dân, Vì thế cần phải đấu tranh chống kẻ thù chung đó. Người viết: \"Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt sẽ lại mọc ra\"2.

Mặt khác, việc tham gia phong trào cộng sản quốc tế giúp cho Nguyễn ái Quốc có thêm những kinh nghiệm hoạt động cách mạng, tăng thêm những hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, trau dồi phẩm chất, đạo đức uy tín của người cách mạng. Tham gia hoạt động cách mạng thế giới, Người đã xây dựng mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, với phong trào cộng sản quốc tế. Thực chất là, bắt đầu từ hoạt động sáng tạo của Nguyễn ái Quốc trong những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, phong trào cách mạng Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

3. Chuẩn bị lực lượng tiên phong cho cách mạng Việt Nam

Xuất phát từ quan điểm cho rằng, muốn có phong trào cách mạng phải có lực lượng cách mạng tiên phong cho nên ngay từ những năm 1924 - 1925, Nguyễn ái Quốc đã đề nghị QTCS cử đi Quảng Châu để xúc tiến việc xây dựng phong trào công nhân và cộng sản ở Đông Nam á, chỉ đạo phong trào nông dân ở châu á, chuẩn bị thành lập ĐCS Việt Nam. ở đây, Người đã mở các lớp huấn luyện chính trị và tháng 6-1925 Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Trong thời gian này, Người đã đào tạo, bồi dưỡng được một thế hệ cách mạng đầu tiên, làm hạt nhân cho phong trào giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ở Việt Nam. Khi phân tích sự sáng tạo của Nguyễn ái Quốc trong hoạt động này, có thể rút ra một số bài học sau:

- Việc Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu để xây dựng phong trào cách mạng ở Đông Nam á và phong trào nông dân châu á là bước đi cách mạng hợp với lôgic phát triển của sự nghiệp cách mạng của Người. Sau khi tìm được con đường giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, Người xúc tiến ngay việc giác ngộ quần chúng về con đường cách mạng. Việc kết hợp nhiệm vụ chung do QTCS giao và nhiệm vụ đối với cách mạng Việt Nam là một sáng tạo độc đáo của Nguyễn ái Quốc.

- Để giác ngộ quần chúng về con đường cách mạng Việt Nam, Nguyễn ái Quốc đã tập hợp những thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết cách mạng để bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng cách mạng, đường lối và phương pháp cách mạng. Đây là sự bắt đầu hết sức sáng tạo, vì Người đã nhìn thấy ở những người thanh niên trẻ này những triển vọng to lớn có thể tham gia vận động và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Những học trò cách mạng đầu tiên của Người như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Đồng, v.v. đã có những cống hiến rất xứng đáng cho phong trào cách mạng Việt Nam. Từ lớp thanh niên đầu tiên này, chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, ĐCS Việt Nam được thành lập với đường lối đúng đắn ngay từ đầu, đội quân cách mạng Việt Nam đã từng bước nhân lên, phát triển thành làn sóng cách mạng mạnh mẽ, nhấn chìm mọi lực lượng phản cách mạng, nhấn chìm mọi âm mưu xâm lược của các đế quốc, thực dân hùng mạnh như phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Xuất phát từ luận điểm của Lênin: \"Không có lý luận cách mạng thì không có cách mạng vận động... Chỉ có theo lý luận cách mạng tiên phong, Đảng cách mạng mới làm nổi trách nhiệm cách mạng tiên phong\", Nguyễn ái Quốc chuẩn bị lực lượng bắt đầu bằng việc giáo dục lý luận cách mạng cho thanh niên. Bằng hoạt động giáo dục lý luận và đưa lý luận cách mạng vào phong trào quần chúng, Nguyễn ái Quốc đã thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của Các Mác: \"Lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bởi sức mạnh vật chất, nhưng lý luận sẽ trở thành sức mạnh vật chất khi thâm nhập vào quần chúng\"3.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện, khơi dậy và tổ chức thành công sức mạnh \"dời non, lấp biển\" của dân tộc Việt Nam.

Là người theo chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh nhận thức rất sâu sắc vai trò của quần chúng trong lịch sử. Nhưng sáng tạo của Người là ở chỗ, sớm nhận thấy nhân dân Việt Nam \"có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước\"4. Hồ Chí Minh cũng nhận ra rằng, ngoài công nhân và nông dân, lực lượng \"gốc\" của cách mạng, thì tiểu tư sản trí thức, binh lính và những tầng lớp khác có thể tham gia cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khi họ yêu nước, căm thù bọn đế quốc, thực dân, mong muốn đất nước độc lập. Đây là điểm đặc biệt sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm như vậy không hoàn toàn đồng nhất với một số đồng chí lãnh đạo của QTCS trong thời gian đó. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là người nhận thấy sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam đang bị rên xiết dưới gót giày của bọn đế quốc, thực dân. Bằng sự kiên trì và sáng tạo của mình, Người đã khơi dậy tinh thần yêu nước quật cường của hàng chục triệu đồng bào cả nước, tổ chức thành một đội quân bách chiến, bách thắng. Sáng tạo lớn lao của Hồ Chí Minh là đã xây dựng được ĐCS cho giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu lợi ích của toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, của dân, do dân và vì dân, mà không xoá nhoà bản chất giai cấp của Đảng và Nhà nước. Hồ Chí Minh đã vượt qua bệnh giáo điều để vận dụng một cách tài tình lý luận về Đảng, về Nhà nước, về cách mạng trong những tình huống phức tạp nhất.

5. Sáng tạo trong cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu đã vùng lên đấu tranh và chiến thắng những kẻ thù lớn nhất, hùng mạnh nhất thế giới như thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra tương quan lực lượng giữa ta và thực dân Pháp:

\"Chúng nhiều là mấy vạn

Mình mấy triệu đồng bào

Chúng đường xa mỏi mệt

Mình \"dĩ dật đãi lao\"5

ở đây đã thể hiện rõ tư tưởng cơ bản về chiến tranh nhân dân của Người. Theo Hồ Chí Minh, nếu toàn dân Việt Nam đoàn kết đồng lòng và được sự lãnh đạo đúng đắn của một chính đảng cách mạng thì không kẻ thù nào có thể đè bẹp được dân tộc ta. Ngày 8- 12- 1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá II, trường Đại học nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã mượn câu \"Nhân chi sơ, tính bản thiện\" trong Tam tự kinh làm đầu đề bài nói chuyện. Sau đó, Người nói: \"Nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân\"6. Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại chưa từng có trong lịch sử. Đó là sức mạnh của ý chí đoàn kết, sự hy sinh, lòng dũng cảm của nhân dân đã được phát huy cao độ và kẻ thù của chúng ta đã nếm mùi thất bại cay đắng khi chạm trán với đội quân cách mạng do Hồ Chí Minh tổ chức và lãnh đạo. Để chuẩn bị cho việc giải phóng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chính quyền, Người đã nghiên cứu nghệ thuật chiến tranh của Trung Quốc cổ đại, đặc biệt là binh pháp của Tôn Tử và phép dùng binh của Khống Minh, kinh nghiệm truyền thống của Việt Nam và lý luận chiến tranh nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tin vào dân, tin vào sức mạnh của nhân dân là nguyên tắc cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Nó đã liên kết hàng triệu con người vào cuộc trường chinh vì độc lập tự do, vì CNXH. Nó tạo nên một đội quân điệp điệp, trung trùng như đại ngàn trường xuân bất lão. Nó nhấn chìm mọi thế lực xâm lăng và các thế lực phản động. Để phát huy sức mạnh to lớn của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống chính trị cách mạng, xây dựng, củng cố ĐCS Việt Nam làm hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc, làm lãnh tụ của cuộc chiến tranh nhân dân. ĐCS Việt Nam đã trở thành danh dự, lương tâm và trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, ĐCS Việt Nam là trung tâm của khối đại đoàn kết dân tộc, là đội quân tiên phong lãnh đạo sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

6. Sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc của nước Việt Nam, mà còn là một danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giới, là chiến sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tháng 5- 1924, Nguyễn ái Quốc viết bài \"Đoàn kết giai cấp\" ca ngợi tinh thần đấu tranh của công nhân hàng hải Braxin chống bọn thực dân; đồng thời ca ngợi tinh thần đoàn kết của những người công nhân da trắng và công nhân da đen sau cuộc đấu tranh này để bảo vệ anh công nhân dũng cảm Riô Đê Hanâyrô. Cuối bài viết, Người kết luận: \"Vậy là dù da màu có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản\"7. Người đứng về phía những người bị áp bức, bóc lột để chống lại bọn áp bức bóc lột. Theo lôgic đó, những người vô sản toàn thế giới và các dân tộc thuộc địa đều là anh em và phải đoàn kết lại chống kẻ thù chung là bọn đế quốc thực dân. Người viết lời kêu gọi đồng bào ta trong cuộc chống Mỹ, cứu nước: \"Chúng ta có chính nghĩa, chúng ta có sức mạnh đoàn kết của hàng chục triệu đồng bào, lại được sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, trong đó có nhân dân Mỹ. Chúng ta nhất định thắng\"8.

Yêu nước thiết tha nhưng không sa vào chủ nghĩa dân lộc hẹp hòi. Hồ Chí Minh tin rằng, nhân loại tiến bộ sẽ ủng hộ sự nghiệp của chúng ta, vì cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước của chúng ta là chính nghĩa. Sự thật là cả thế giới đã ủng hộ nhân dân Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nhiều thanh niên, trí thức Mỹ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ, có người đã tự thiêu để phản đối. Chính vì biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại mà chúng ta đã làm nên những chiến công hiển hách, ghi vào lịch sử dân tộc những trang sủ hào hùng. \"Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX một sự kiện có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc\"9.

Những sáng tạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hết sức phong phú và sinh động, cần phải có công trình khoa học lớn hơn, nghiên cứu một cách đầy đủ hơn và hệ thống hơn để khai thác như một di sản quý báu của dân tộc Việt Nam cho các thế hệ cách mạng tương lai kế thừa và phát triển.
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
anhkokhocviem Đăng lúc 16-5-2009 16:45:36
Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh (tt)[/COLOR][/SIZE]
II.Tư tưởng Hồ Chí Minh - Tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn kiện Đại hội IX của Đảng

Trong Báo cáo Chính trị của Ban cấp hành TW trình bày tại Đại hội lần thứ IX của Đảng ở ngay phần \"Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta\", đã khẳng định: Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dụng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Khẳng định này là sự tổng kết khoa học thực tiễn phong phú của cách mạng nước ta trong nhiều nǎm qua, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta. Bài viết này xin góp phần làm rõ thêm quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ngày nay.

1- Trên con đường nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong Vǎn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam nǎm 1991 đã ghi rõ: \"Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cách mạng\". Có phải đây là lần đầu tiên Đảng ta nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh? Và sự nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó đến nay phát triển như thế nào?

Thật ra, ngay trong các vǎn kiện do Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh khởi thảo và được thông quá từ Hội nghị thành lập đảng Cộng sản Việt Nam tháng 2 nǎm 1930, đường lối, những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh để được thể hiện. Những vǎn kiện đầu tiên của Đảng như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng tuy là khởi thảo, rất ngắn gọn, nhưng đã hàm chứa con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là: \"Tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ phong kiến... Tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung, đánh đổ các đảng phái phản cách mạng như Đảng Lập hiến...\" (trích Chương trình tóm tắt của Đảng\" (1) và \"tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản\" (trích Tôn chỉ của đảng cộng sản Việt Nam) (2). Như vậy, trong các vǎn kiện lịch sử này tuy chưa đưa ra khái niệm \"tư tưởng Hồ Chí Minh\", nhưng tư tưởng của Hồ Chí Minh đã chỉ ra con đường phát triển của cách mạng Việt Nam; là cơ sở, nền tảng đường lối của Đảng ta. Đó là con đường cách mạng triệt để: con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Đến Hội nghị TW lần thứ VIII tháng 5-1941, tư tưởng về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam được bổ sung và phát triển thêm một bước, góp phần tích cực tạo thành chiến công của Cách mạng Tháng 8 - 1945: Phá tan xiềng xích Pháp Nhật, thành lập nước Việt Nam mới.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong đường lối kháng chiến kiến quốc, trong đường lối chính trị của Đảng ta. Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, tác phong đạo đức, những quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh là yếu tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến là thành nguồn cổ vũ, động viên quân và dân ta kháng chiến thắng lợi. Vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng - Đại hội kháng chiến, Đảng ta đã chỉ ra mối quan hệ khǎng khít giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng ta: \"Đường lối chính trị, nề nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta là đường lối, tác phong và đạo đức của Hồ Chủ tịch...\". Vì vậy: \"Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch, sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng ta mạnh và làm cho cách mạng đi đến thắng lợi hoàn toàn\" (3).

Trong những nǎm tháng kháng chiến gian lao, chính \"đường lối tác phong đạo đức\" của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nhân tố quan trọng tạo thành đường lối kháng chiến của dân tộc, động viên quân dân làm nên thắng lợi của kháng chiến.

Đã hàng nhiều thập kỷ Đảng ta tổng kết những yếu tố làm nên những chiến thắng của dân tộc nhưng chưa có điều kiện đặt ra vấn đề nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh như một nhiệm vụ tương ứng với tầm quan trong vốn có của nó. Tình hình trên đây có nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, do bận kháng chiến. Thứ hai, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đến quyền lợi, hạnh phúc của quần chúng nhân dân, thường \"hoãn\" lại những công việc ca ngợi công đức hay việc tổ chức Ngày sinh của Người. Còn nhớ, sau Cách mạng Tháng Tám, chính Người đã khuyên nhà báo đến Phủ Chủ tịch xin viết tiểu sử của Người rằng: \"chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi ! Còn tiểu sử của tôi... thong thả sẽ nói đến\" (4). Có lần, tại cuộc gặp gỡ với đông đảo quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc một phóng viên liên tục chĩa máy quay phim về Người rằng: Chú hãy hướng máy quay về phía nhân dân đi !. Trong kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, không ít lần Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bố trí đi công tác địa phương trong dịp sinh nhật của Người. Tấm gương trong sáng, vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nguồn cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân nghe theo Đảng, Bác, phục vụ kháng chiến. Cả dân tộc tôn kính Người, gọi Người là vị \"Cha già dân tộc\" (5). Mặt khác, đây cũng là một lý do làm cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh có phần muộn hơn so với tầm quan trọng vốn có của nó.

Là Tổng Bí thư của Đảng ta, đồng chí Trường Chinh sớm thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của Hồ Chí Minh cùng với tư tưởng của Người đối với tiến trình cách mạng Việt Nam. Đồng chí Trường Chinh là người lãnh đạo cấp cao của Đảng ta sớm có những tổng kết, những bài viết có giá trị khoa học, chính trị cao về Chủ tịch Hồ Chí Minh (như \"Hồ Chủ tịch - người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta\", \"Kính chúc Hồ Chủ tịch mạnh khoẻ sống lâu\" nǎm 1951).

Tuy nhiên cũng phải đến giữa nǎm 1960, nhân địp kỷ niệm 70 nǎm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh thì khái niệm \"Tư tường\" mới được đề cập đến trong việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Trong bài viết : \"Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam\", đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ mối quan hệ máu thịt giữa Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam, giữa vai trò to lớn của tư tưởng đạo đức của Người đối với việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho cán bộ đảng viên. Đồng chí Trường Chinh viết: \"Ngày 19 tháng 5 nǎm nay, đồng chí Hồ Chí Minh Chủ tịch kiêm Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, vừa đúng 70 tuổi. Giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam ra sức thi đua yêu nước lấy thành tích chúc thọ vị lãnh tụ kính yêu của mình. Nhân dịp này, chúng ta hãy ôn lại tiểu sử và sự nghiệp của Hồ Chủ tịch, tìm hiểu và học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người để phục vụ nhân dân được tốt hơn\" (6). Đây là cái mốc quan trọng đánh dấu sự nhận thức của Đảng ta đối với vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Vấn đề cần được ghi nhận ở ngay mốc đầu tiên này là đồng chí Trường Chinh và Đảng ta đã sớm thấy rõ bản chất cách mạng, vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp phục vụ Tổ quốc phục vụ nhân dân.

Trên thực tế, đường lối chính trị, tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh vẫn luôn luôn góp phần tích cực tạo dựng đường lối của Đảng ta. Tuy nhiên phải từ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, việc nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng của Người mới được triển khai mạnh hơn. Đặc biệt là, bầu bạn, đồng chí quốc tế và không ít người trước đây đã từng \"đối diện\" với Hồ Chí Minh lại sớm có nhiều công trình nghiên về Người từ nhiều giác độ. Có nhiều người đánh giá rất cao về Hồ Chí Minh, không chỉ về tư cách một chính khách, người anh hùng giải phóng dân tộc mà cả về tư cách nhà vǎn hoá lớn - một phẩm chất, một tư cách mà nhiều người Việt Nam còn chưa thấy được.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) đã tiến thêm một bước trong việc đánh giá về ý nghĩa vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội xác định nhiệm vụ to lớn trước mắt là: \"Đảng ta phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng\".

Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), vấn đề nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Hơn thế, Đảng ta còn khẳng định trong các vǎn kiện Đại hội chính thức rằng: \"Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động\".(7)

Đây là mốc có ý nghĩa đặc biệt trong việc xác định đúng đắn vị trí tư tưởng Hồ Chí Minh đối với toàn bộ tiến trình của cách mạng Việt Nam. Đây là \"một bước phát triển hết sức quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận Đảng\"(8). Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, bước phát triển này đã được chuẩn bị từ rất lâu. Có thể kể ra từ Đại hội lần thứ hai của Đảng nǎm 1951, khi Đảng ta đặt vấn đề học tập đường lối, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh. Nǎm 1991 là thời điểm tổng kết kinh nghiệm, bài học của cách mạng Việt Nam trong hơn 40 nǎm mà rút ra kết luận quan trọng về tư tưởng Hồ Chí Minh.

2- Phát huy sức mạnh cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới.

Nửa đầu những nǎm 80, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa khác lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội. Đối mặt trực tiếp với tình trạng này, mỗi nước đều ra sức tìm kiếm con đường thoát khỏi khủng hoảng, truy tìm \"chủ thuyết\" xây dựng lý luận mới phù hợp với con đường giữ gìn và chấn hưng đất nước trong tình hình mới. Đối với Trung Quốc, đó và con đường cải cách mở cửa, đối với Liên Xô là Cải tổ. Còn đối với Việt Nam là Đổi mới. Nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác cũng cố gắng tìm con đường đi cho mình, nhưng phần lớn họ đã không thành công. Dẫn ra bối cảnh trên đây để thấy rằng: Đảng ta khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động cho Đảng ta là một sự lựa chọn lịch sử, là cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận. Đây là sự lựa chọn chưa có trong lịch sử, chưa có tiền lệ. Sự lựa chọn đúng sai sẽ liên quan đến vận mạng của cả dân tộc. ở đây cần thấy rõ cả 2 mặt của vấn đề lựa chọn. Một là, bản chất cách mạng triệt để, tính nhân đạo sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin là một yếu tố để Đảng và dân tộc ta lựa chọn làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam cho hành động. Hai là, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã mang trong mình tính cách mạng triệt để, tính chủ động sánh tạo trong mọi hoàn cảnh, nên trước bối cảnh cực kỳ khắc nghiệt này, Đảng ta đã sáng suốt khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận, chỗ dựa tinh thần cho việc giữ vững độc lập và chấn hưng đất nước. Và trên thực tế đó là sự lựa chọn cực kỳ đúng đắn. Đảng ta tiếp tục dẫn đường đi cho dân tộc trong bối cảnh khủng hoảng. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam đang phát triển với những triển vọng tốt đẹp.

Có thể nói, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở của công cuộc Đổi mới. Chính vì vậy, đến Đại hội lần thứ VII (1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối của mình. Trong 6 bài học được rút ra sau 10 nǎm đổi mới, thì bài học thứ nhất là: Phải \"kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh\" (Cùng với: giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc) (9).

Đến Đại hội lần thứ IX của Đảng (2001), tư tưởng Hồ Chí Minh chiếm phần quan trọng trong đường lối chiến lược của Đảng. Lần đầu tiên, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được trình bày khá đầy đủ trong Vǎn kiện của Đại hội, trong phần \"Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta\". Đó là: \"Tư tương Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiệu cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hoá của nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn nền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về phát triển kinh tế và vǎn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chǎm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta\" (10).

Vǎn kiện còn khẳng định: \"Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.\"(11). Việc khẳng định một lần nữa: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ Nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnhd dạo đã chỉ ra rằng : mọi thắng lợi của cách mạng đều gắn liền với đường lối cách mạng mang tính triệt để và sáng tạo của Đảng ; trong đó : tư tưởng Hồ Chí Minh là một yếu tố cực kỳ quan trọng đảm bảo cho đường lối của Đảng luôn mang tính cách mạng và sáng tạo trong mọi hoàn cảnh. Ngày nay, khi công cuộc đổi mới càng triển khai toàn diện, đi vào bề sâu thì Đảng ta càng tìm thấy ở tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều quan điểm, kinh nghiệm quý báu. Bởi vậy, Đảng ta, một lần nữa trong các vǎn kiện Đại hội IX đã trình bày khá toàn diện về nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh, ở một vị trí cực kỳ quan trọng trong vǎn kiện : \"Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta\". Đây là một sự khẳng định và một sự đảm bảo chắc thắng cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Cố Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng đã có lần chỉ cho chúng ta giá trị của nguồn tài sản này : tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng đầy quý báu, là di sản chứa đựng biết bao giá trị, gia trị đó nói cho cùng là giá trị vǎn hoá mà chúng ta khai thác chưa được bao nhiêu.
Chuyên bán laptop mới - cũ chất lượng cao giá rẻ
sửa chữa, cài đặt tận nơi
Kapersky Antivirus bản quyền ( gồm cả hộp CD ) giá 200k
Mọi chi tiết liên hệ : 0972 945 193
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Đăng ký


Diễn đàn chia sẻ thông tin cộng đồng, tài liệu chuyên ngành, kỹ năng mềm dành cho sinh viên Việt Nam Trao đổi: du lịch, tour du lich, dù lệch tâm, Du lịch Đà Nẵng, du lich nuoc ngoai, can ho One Verandah, trầm quảng nam, Tài Liệu, Luận Văn, Ebook miễn phí, Thư viện giáo án, ban backlink 2018, xì gà cuba, m88, https://chungcumydinhpearl.com.vn/, phụ kiện xì gà, bi quyet lam dep, đèn led thanh, đèn led âm đất, đèn led pha, Du lịch côn đảo
TD: ,

Lưu trữ|Phiên bản Mobile|Diễn đàn sinh viên Ngoinhachung.Net © 2006-2016
Đang chờ Bộ Thông Tin & Truyền Thông cấp phép theo Nghị định 97/2008/NĐ-CP
Diễn đàn chia sẻ thông tin cộng đồng, tài liệu chuyên ngành, kỹ năng mềm dành cho sinh viên Việt Nam
Chúng tôi sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào đối với hoạt động của Thành viên.
Liên hệ: 0945.434.344 - (Toàn) - Email: wil8x@yahoo.com -
Check Google Page Rank - DMCA.com

GMT+7, 7-12-2019 11:16 , Processed in 0.195367 second(s), 23 queries , Gzip On.

N2C sử dụng mã nguồn Discuz!

Bản quyền mã nguồn thuộc về Comsenz Inc.
Thông tin quảng cáo trên Ngoinhachung.net

Lên trên